Góp ý Nghị định sửa đổi các Nghị định quy định chi tiết Luật Đầu tư theo phương thức PPP
Kính gửi: Bộ Tài chính
Trả lời Công văn số 2396/BTC-QLĐT ngày 2/3/2026 của Bộ Tài chính về việc đề nghị góp ý Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định chi tiết Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư (sau đây gọi tắt là Dự thảo), Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), trên cơ sở ý kiến của doanh nghiệp, hiệp hội, có một số ý kiến ban đầu như sau:
- Đối với các nội dung sửa đổi, bổ sung Nghị định số 257/2025/NĐ-CP về việc thực hiện dự án áp dụng loại hợp đồng Xây dựng – Chuyển giao (Điều 1)
1.1. Bổ sung quy định lập, thẩm định báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư, quyết định chủ trương đầu tư (khoản 2 Điều 1 bổ sung khoản 7a vào sau khoản 7 Điều 5)
Dự thảo bổ sung khoản 7a theo đó, quyết định chủ trương đầu tư bắt buộc được đăng tải trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia, trang thông tin điện tử của cơ quan có thẩm quyền và “khuyến khích” đăng tải thông tin về “vị trí, diện tích quỹ đất dự kiến thanh toán cho dự án BT trên trang thông tin điện tử và trụ sở UBND cấp xã nơi thu hồi đất”. Việc công khai các thông tin này là cần thiết, giúp đảm bảo tính minh bạch của thông tin quỹ đất, góp phần hạn chế khiếu nại, khiếu kiện.
Tuy nhiên, quy định đang thiết kế theo hướng “khuyến khích” đăng tải các thông tin về “vị trí, diện tích quỹ đất dự kiến thanh toán cho dự án BT” dường như chưa thực sự hợp lý và đảm bảo được tinh thần minh bạch như giải trình. Bởi vì, các thông tin này có thể được đăng tải hoặc không, tùy thuộc vào quyền quyết định của UBND cấp xã.
Để đảm bảo tính minh bạch, đề nghị sửa đổi quy định tại khoản 7a theo hướng các thông tin về vị trí, diện tích quỹ đất dự kiến thanh toán cho dự án BT bắt buộc phải đăng tải trên trang thông tin điện tử của UBND cấp xã, cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
1.2. Sửa đổi, bổ sung quy định quỹ đất dự kiến thanh toán cho nhà đầu tư thực hiện dự án BT thanh toán bằng quỹ đất (khoản 3 Điều 1 Dự thảo)
– Về chi phí xây dựng hạ tầng khi xác định giá trị quỹ đất:
Điểm c khoản 3 Điều 1 Dự thảo bổ sung các điểm e1, e2, e3, e4 vào khoản 3 Điều 6 theo hướng cho phép khấu trừ chi phí xây dựng hạ tầng khi xác định giá trị quỹ đất thanh toán. Giá đất làm căn cứ xác định giá trị quỹ đất dự kiến phải căn cứ vào giá đất trong bảng giá đất của khu vực, vị trí có điều kiện hạ tầng tương tự để xác định. Trong trường hợp Quỹ đất dự kiến thanh toán chưa được xây dựng hạ tầng nhưng xác định được chi phí xây dựng hạ tầng căn cứ suất vốn đầu tư xây dựng do Bộ Xây dựng công bố theo quy định của pháp luật về xây dựng.
Theo phản ánh của doanh nghiệp, hiện nay chưa có cơ chế đầy đủ và thống nhất để xác định chi phí xây dựng hạ tầng trong các dự án BT. Các công cụ hiện hành như suất vốn đầu tư xây dựng chủ yếu mang tính tham chiếu, chưa đủ để kiểm soát rủi ro sai lệch hoặc trục lợi trong quá trình xác định chi phí. Do đó, việc làm rõ phương pháp xác định và cơ chế kiểm soát chi phí xây dựng hạ tầng là cần thiết nhằm bảo đảm tính minh bạch và hạn chế rủi ro cho cả doanh nghiệp và cơ quan nhà nước.
Đề nghị bổ sung cơ chế xác định và kiểm soát chi phí xây dựng hạ tầng dựa trên thẩm định độc lập và so sánh thị trường với suất vốn; quy định rõ tiêu chí xác định khu vực có điều kiện hạ tầng tương tự đối với các dự án mang tính đặc thù BT.
– Về xác định giá đất
Điểm d khoản 3 Điều 1 Dự thảo bổ sung điểm h khoản 3 Điều 6 quy định trường hợp không xác định được khu vực có điều kiện hạ tầng tương tự thì áp dụng giá đất cao nhất trong bảng giá đất của khu vực có cùng mục đích sử dụng. Quy định này được hiểu nhằm phòng ngừa thất thoát tài sản công trong trường hợp thiếu thông tin so sánh. Tuy nhiên, quy định này cần được xem xét ở các điểm:
+ Hiện tại chưa có tiêu chí để xác định “khu vực có điều kiện hạ tầng tương tự” trong bối cảnh các dự án BT, dẫn đến khả năng cách hiểu và áp dụng không thống nhất giữa các địa phương. Hơn nữa, cụm từ “Trường hợp không xác định được” mang tính định tính và thiếu các tiêu chí rõ ràng, có thể dẫn tới nguy cơ cơ quan thực thi lạm dụng quy định này để áp luôn giá cao nhất nhằm tránh rủi ro thất thoát tài sản nhà nước, đẩy toàn bộ rủi ro tài chính về phía nhà đầu tư
+ Quy định áp dụng “giá đất cao nhất” khi không tìm thấy vị trí tương đương là một sự áp đặt hành chính khiên cưỡng, gây bất lợi trực tiếp cho nhà đầu tư. Quỹ đất thanh toán cho nhà đầu tư có thể ở vị trí có hạ tầng kém phát triển, nhưng lại bị áp mức giá của khu vực có hạ tầng tốt nhất (giá cao nhất) chỉ vì cơ quan nhà nước “không xác định được” khu vực tương tự. Điều này ảnh hưởng đến các phương án tài chính của nhà đầu tư đã lập trước đó.
Mặt khác, việc áp dụng giá đất cao nhất trong bảng giá đất có thể khiến cho thông điệp chính sách chưa thực sự tích cực, khi Nhà nước đang muốn bảo toàn cho mình và chuyển rủi ro cho nhà đầu tư, chưa đảm bảo nguyên tắc “bảo đảm hài hóa lợi ích giữa Nhà nước, nhà đầu tư, người sử dụng và cộng đồng” tại khoản 5 Điều 7 Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư.
Doanh nghiệp đề nghị cơ chế linh hoạt hơn thay vì áp dụng cứng giá đất cao nhất, nhằm đảm bảo cân bằng lợi ích giữa Nhà nước và nhà đầu tư (có thể sử dụng các phương pháp xác định giá đất khác quy định tại pháp luật về đất đai).
1.3. Sửa đổi quy định xác định giá trị quỹ đất để thanh toán (khoản 5 Điều 1)
Dự thảo sửa đổi điểm c khoản 1 Điều 19 Dự thảo theo hướng bổ sung thêm quy định “trường hợp Nhà nước chậm giao đất, cho thuê đất để thanh toán cho Hợp đồng BT thì Nhà đầu tư được hưởng thêm một khoản tiền tương ứng với mức lãi suất trung bình của các Ngân hàng Thương mại là công ty cổ phần do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ đối với phần giá trị của hạng mục công trình hoặc công trình. Thời gian được hưởng tính từ thời điểm nghiệm thu hoàn thành hạng mục công trình hoặc công trình dự án BT đến thời điểm có quyết định giao đất, cho thuê đất”.
Đây là quy định mới, thể hiện tính công bằng và đảm bảo quyền lợi cho nhà đầu tư trong trường hợp Nhà nước chậm giao đất, cho thuê đất để thanh toán. Tuy nhiên, quy định trên chưa đủ rõ: không rõ đây là lãi suất này tính theo thời hạn nào? Lãi suất tham chiếu là lãi suất gì? Đề nghị quy định rõ thông tin này.
Mặt khác, theo quy định tại khoản 1 Điều 20 Nghị định 257/2025/NĐ-CP về nguyên tắc thanh toán hợp đồng dự án BT thanh toán bằng quỹ đất có trường hợp hợp đồng dự án BT giao đất một lần, cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ giao toàn bộ quỹ đất cho nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án sau khi ký kết hợp đồng. Đối với trường hợp thanh toán này thì thời gian nhà đầu tư được hưởng khoản tiền đền bù trên phải tính từ thời điểm ký kết hợp đồng BT mà không phải là thời điểm nghiệm thu hoàn thành hạng mục công trình hoặc công trình dự án BT. Đề nghị bổ sung thêm thời điểm này.
- Đối với các nội dung sửa đổi, bổ sung Nghị định số 243/2025/NĐ-CP quy định chi tiết môt số điều của Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư (Điều 2)
Về giám sát tình hình huy động vốn và kiểm toán độc lập: khoản 4 Điều 2 Dự thảo bổ sung điểm c khoản 2 Điều 72 về trách nhiệm của cơ quan ký kết hợp đồng trong việc giám sát tình hình huy động vốn của doanh nghiệp dự án, bao gồm vốn chủ sở hữu và vốn vay; đồng thời cho phép cơ quan nhà nước có thẩm quyền thống nhất với nhà đầu tư về việc thuê đơn vị kiểm toán độc lập để thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính định kỳ.
Theo phản ánh của doanh nghiệp, đây là biện pháp cần thiết nhằm tăng cường minh bạch tài chính và bảo đảm năng lực thực hiện dự án, đặc biệt trong bối cảnh công tác giám sát tài chính đối với các dự án PPP thời gian qua còn nhiều hạn chế.
Tuy nhiên, để bảo đảm thống nhất cách hiểu và tính khả thi của quy định, đề nghị xem xét quy định rõ việc phân bổ chi phí thuê kiểm toán độc lập, bao gồm trách nhiệm chi trả là của ai và nguyên tắc xác định chi phí.
Trên đây là một số ý kiến ban đầu của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đối với Dự thảo Nghị sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định chi tiết Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư. Rất mong cơ quan soạn thảo cân nhắc để chỉnh sửa, hoàn thiện Dự thảo này.
Trân trọng cảm ơn sự hợp tác của Quý Cơ quan./.
Website xây dựng pháp luật của VCCI