Góp ý Dự án Nghị quyết của Quốc hội về gia hạn thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xe điện dưới 24 chỗ
Góp ý Dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân
Kính gửi: Bộ Tài chính
Trả lời Công văn 3715/BTC-CST của Bộ Tài chính về việc đề nghị góp ý Dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân (sau đây gọi tắt là Dự thảo), Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) trên cơ sở ý kiến của các doanh nghiệp, hiệp hội, tổng hợp các góp ý như sau:
- Thu nhập từ hoạt động kinh doanh và hành nghề độc lập (Điều 7)
Theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 8 Dự thảo “thu nhập nhận được từ hoạt động quản lý đại lý bảo hiểm” được xem là thu nhập từ tiền lương, tiền công. Trong khi đó, khoản 2 Điều 7 Dự thảo quy định “thu nhập từ hoạt động hành nghề độc lập của cá nhân có giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề và có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật” là thu nhập từ kinh doanh.
Thực tế, các quản lý đại lý đang ký kết hợp đồng với doanh nghiệp bảo hiểm theo hai hình thức: cá nhân hoặc cá nhân kinh doanh. Theo quy định trên, hoạt động quản lý bảo hiểm được xác định cứng là thu nhập từ tiền lương, tiền công. Điều này là chưa phù hợp trong trường hợp cá nhân thực hiện hoạt động quản lý bảo hiểm có đăng ký kinh doanh.
Để đảm bảo phù hợp với thực tiễn, đề nghị điều chỉnh quy định theo hướng cho phép các quản lý đại lý bảo hiểm được lựa chọn phương thức áp dụng thuế theo một trong hai loại: thu nhập từ kinh doanh đối với cá nhân đăng ký kinh doanh hoặc thu nhập từ tiền lương, tiền công đối với trường hợp cá nhân không đăng ký kinh doanh.
- Thu nhập từ tiền lương, tiền công (Điều 8)
– Phí hội viên và các khoản chi phí dịch vụ khác
Điểm d khoản 2 Điều 8 Dự thảo quy định “phí hội viên và các khoản chi phí dịch vụ khác phục vụ cho cá nhân để chăm sóc sức khỏe, vui chơi, thể thao, giải trí, thẩm mỹ trừ trường hợp các dịch vụ này được sử dụng chung, không ghi tên cá nhân hoặc nhóm cá nhân sử dụng không tính vào thu nhập chịu thuế” được xem là lợi ích cá nhân nhận được và được tính vào thu nhập từ tiền lương, tiền công.
Quy định này chưa rõ ràng và sẽ khó thực hiện trên thực tế, cụ thể:
+ Các lợi ích ở trên mang tính chất phúc lợi, chăm sóc đời sống tinh thần cho người lao động, không phản ánh bản chất tiền lương, tiền công. Việc xác định các phúc lợi này vào khoản thu nhập từ tiền lương, tiền công là chưa phù hợp và ảnh hưởng đến lợi ích của người lao động.
+ Việc phân biệt giữa “sử dụng riêng cho cá nhân” và “sử dụng chung” theo phản ánh của doanh nghiệp, trên thực tế khá phức tạp, chưa rõ ràng, có thể dẫn đến cách áp dụng khác nhau của cơ quan thuế và tăng rủi ro cho doanh nghiệp.
Từ những phân tích trên, đề nghị cân nhắc bỏ quy định tại điểm d khoản 2 Điều 8 Dự thảo.
– Tiền nhà ở, điện, nước và các dịch vụ kèm theo
Điểm h khoản 2 Điều 8 Dự thảo quy định “trường hợp tiền thuê nhà ở, điện, nước và các dịch vụ kèm theo (nếu có) do người sử dụng lao động thuê và trả thay thì tính vào thu nhập chịu thuế của cá nhân theo số thực tế trả thay nhưng không vượt quá 15% tổng thu nhập chịu thuế của cá nhân phát sinh tại đơn vị chưa bao gồm tiền thuê nhà, điện nước và dịch vụ kèm theo (nếu có)”. Người sử dụng lao động trả tiền thuê nhà cho người lao động được xem là một trong những phúc lợi, nhằm thu hút nhân lực chất lượng cao. Khoản chi phí này cũng là các chi phí phục vụ điều kiện làm việc và sinh hoạt tối thiểu của người lao động. Để đảm bảo quyền lợi cho người lao động cũng như tạo ra chính sách thu hút nguồn nhân lực có chất lượng, doanh nghiệp đề nghị xem xét lại mức khống chế 15%, có thể hạ xuống tỷ lệ 10%.
– Khoản tiền học phí
Điểm g khoản 4 Điều 8 Dự thảo quy định các khoản thu nhập không mang tính chất tiền lương, tiền công không tính vào thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân gồm: “khoản tiền học phí cho con của người lao động nước ngoài học tại Việt Nam, con của người lao động Việt Nam đang làm việc ở nước ngoài học tại nước ngoài theo bậc học từ mầm non đến trung học phổ thông do người sử dụng lao động trả thay cho người lao động”.
Theo phản ánh, trong thực tiễn một số doanh nghiệp thực hiện chi trả thay cho người lao động nước ngoài khoản học phí cho con (bao gồm cả các khoản thu khác có tên gọi khác nhau nhưng gắn trực tiếp với chương trình học theo quy định của cơ sở giáo dục) và xác định đây là khoản thu nhập không chịu thuế thu nhập cá nhân, đồng thời được tính vào chi phí được trừ khi xác định thuế thu nhập doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong quá trình thanh tra, kiểm tra thuế, cơ quan thuế có quan điểm khác nhau về việc xác định phạm vi các khoản chi này, dẫn đến rủi ro về thuế và thiếu nhất quán trong áp dụng pháp luật.
Quy định trên vẫn chưa đủ rõ ràng về các khoản đượ xem là “học phí”, đề nghị quy định rõ hơn (có thể quy định theo hướng, học phí là các khoản thu bắt buộc theo quy định của cơ sở giáo dục liên quan trực tiếp đến việc học tập của học sinh: học phí chính khóa, các khoản phí nhập học, khoản đóng góp bắt buộc cho nhà trường, … không bao gồm các khoản chi mang tính tự nguyện hoặc không liên quan trực tiếp đến chương trình học theo quy định của cơ sở giáo dục).
– Khoản tiền mua bảo hiểm không bắt buộc
Điểm h khoản 4 Điều 8 Dự thảo quy định các khoản thu nhập không mang tính chất tiền lương, tiền công không tính vào thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân là “khoản tiền mua bảo hiểm không bắt buộc mà không có tích lũy về phí bảo hiểm bao gồm cả các sản phẩm sức khỏe, bảo hiểm tử kỳ (không bao gồm sản phẩm bảo hiểm tử kỳ có hoàn phí) mà người tham gia bảo hiểm không nhận được tiền phí tích lũy từ việc tham gia bảo hiểm, ngoài khoản tiền bảo hiểm hoặc bồi thường theo thỏa thuận tại hợp đồng bảo hiểm do doanh nghieepje bảo hiểm trả”.
Quy định này mới chỉ xác định tính chất của khoản thu nhập (bảo hiểm không bắt buộc, không có tích lũy) nhưng chưa làm rõ chủ thể được được bảo hiểm là ai. Trên thực tế, người được bảo hiểm không chỉ giới hạn ở người lao động mà còn có thể bao gồm người thân của người lao động như vợ/chồng, con, cha, mẹ … Việc thiếu rõ ràng trong quy định có thể tạo cách hiểu không thống nhất trên thực tế.
Doanh nghiệp đề nghị sửa đổi quy định trên theo hướng “h) Khoản tiền mua bảo hiểm không bắt buộc và không có tích lũy về phí bảo hiểm bao gồm cả các sản phẩm sức khỏe, bảo hiểm tử kỳ (không bao gồm sản phẩm bảo hiểm tử kỳ có hoàn phí) mà người tham gia bảo hiểm bên mua bảo hiểm (người lao động) không nhận được tiền phí tích lũy từ việc tham gia bảo hiểm, ngoài khoản tiền bảo hiểm hoặc bồi thường theo thỏa thuận tại hợp đồng bảo hiểm do doanh nghiệp bảo hiểm trả; bao gồm trường hợp người được bảo hiểm không phải là bên mua bảo hiểm phù hợp với quy định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm.””.
- Thu nhập từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng chứng khoán (Điều 10)
Khoản 1 Điều 10 Dự thảo quy định gộp chung thu nhập từ chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ số vốn góp trong công ty TNHH, công ty hợp danh, hợp đồng hợp tác kinh doanh, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức khác và chuyển nhượng cổ phần của công ty không phải là công ty đại chúng, chuyển nhượng cổ phần của tổ chức không phải là tổ chức niêm yết, đăng ký giao dịch theo quy định của pháp luật chứng khoán. Theo quy định tại khoản 1 Điều 53 Dự thảo, thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn của cá nhân cư trú theo quy định này được xác định bằng thu nhập tính thuế nhân với thuế suất 20% theo từng lần chuyển nhượng. Trong đó, thu nhập tính thuế từ chuyển nhượng vốn được xác định bằng giá chuyển nhượng trừ đi giá mua phần vốn chuyển nhượng và các khoản chi phí hợp lý liên quan đến việc tạo ra thu nhập từ chuyển nhượng vốn.
Khoản 2 Điều 10 Dự thảo quy định thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán là thu nhập từ chuyển nhượng cổ phiếu, quyền mua cổ phiếu của công ty đại chúng, tổ chức niêm yết, tổ chức đăng ký giao dịch; chuyển nhượng trái phiếu, tín phiếu, chứng chỉ quỹ và các loại chứng khoán khác theo quy định của pháp luật về chứng khoán. Với thu nhập này sẽ chịu 0,1% trên giá chuyển nhượng.
Quy định trên cần được cân nhắc, xem xét ở các góc độ:
– Về tính thống nhất và hợp lý: Theo Luật Doanh nghiệp, cổ phần tại công ty cổ phần (dù niêm yết hay chưa) đều có cùng bản chất pháp lý và tính chất tự do chuyển nhượng. Việc phân loại cổ phần chưa niêm yết vào khoản 1 (tính thuế 20% trên chênh lệch) và cổ phần niêm yết vào khoản 2 (tính thuế 0,1% trên doanh thu) tạo ra sự bất bình đẳng. Điều này vô hình trung tạo rào cản cho sự phát triển của các doanh nghiệp chưa đại chúng, làm giảm tính hấp dẫn của môi trường đầu tư khởi nghiệp.
– Về tính khả thi và nguy cơ nhũng nhiễu: Quy định tại khoản 1 Dự thảo sẽ ít tính khả thi. Để thu thuế 20% phải xác định được “giá vốn” và “chi phí hợp lý”. Tuy nhiên, với cá nhân chuyển nhượng cổ phần nội bộ không qua sàn, chứng từ thường không đầy đủ hoặc dễ dàng bị dàn xếp. Điều này không chỉ gây khó khăn cho cơ quan thuế trong việc thanh tra, ấn định thuế mà còn tạo khe hở cho các hành vi gian lận (như làm giả hợp đồng mua bán với giá vốn cao để triệt tiêu lợi nhuận).
Từ những phân tích trên, đề nghị:
– Bỏ cụm từ “chuyển nhượng cổ phần của công ty không phải là công ty đại chúng, chuyển nhượng cổ phần của tổ chức không phải là tổ chức niêm yết, đăng ký giao dịch theo quy định của pháp luật chứng khoán” tại khoản 1 Điều 10;
– Bổ sung cụm từ “thu nhập từ chuyển nhượng cổ phần của các cá nhân trong công ty cổ phần theo quy định của pháp luật” vào cuối của khoản 2 Điều 10.
- Thu nhập từ trúng thưởng, quà tặng khuyến mại (Điều 12)
– Thu nhập từ trúng thưởng
Khoản 2 Điều 12 Dự thảo quy định thu nhập từ trúng thưởng là các khoản tiền hoặc hiện vật mà cá nhân nhận được bao gồm “trúng thưởng trong các hình thức khuyến mại khi tham gia mua bán hàng hóa, dịch vụ theo quy định của Luật Thương mại”.
Trong các hình thức khuyến mại quy định tại Luật Thương mại 2005 chỉ có khoản 6 Điều 92 Luật Thương mại sử dụng cụm từ “trúng thưởng”. Theo phản ánh của doanh nghiệp, trên thực tế, cơ quan thuế đã hướng dẫn hình thức tại khoản 5 Điều 92 Luật Thương mại (bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm phiếu dự thi cho khách hàng để chọn người trao thưởng theo thể lệ và giải thưởng đã công bố) cũng sẽ được tính vào thu nhập từ trúng thưởng (Công văn 3929/TCT-TNCN ngày 23/09/2015). Bên cạnh đó, cơ quan thuế cũng hướng dẫn không tính thuế thu nhập cá nhân với điều kiện “không tổ chức thi hoặc bốc thăm trúng thưởng để chọn ra người được tặng quà” (Công văn 2548/TCT-TNCN ngày 12/06 /2017).
Để đảm bảo tính rõ ràng và tạo cách hiểu thống nhất, đề nghị quy định rõ ràng, cụ thể hơn về thu nhập từ trúng thưởng quy định tại khoản 2 Điều 12 Dự thảo.
– Thu nhập từ các hình thức khuyến mại khác
Dự thảo chưa có quy định đối với các khoản thu nhập từ quà tặng (bằng tiền hoặc bằng hiện vật) từ các hình thức khuyến mại khác trong Luật Thương mại (trừ thu nhập từ trúng thưởng quy định tại khoản 2 Điều 12, thu nhập từ thừa kế, quà tặng từ khoản 4 Điều 15). Điều này có thể khiến cho việc triển khai trên thực tế gặp lúng túng, doanh nghiệp phải xin hướng dẫn từ công văn của các cơ quan thuế. Đề nghị Dự thảo bổ sung suy định về vấn đề này.
- Về quy đổi thu nhập chịu thuế (Điều 17)
Khoản 1 Điều 17 Dự thảo quy định “thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân nhận được bằng ngoại tệ phải quy đổi ra Đồng Việt Nam theo tỷ giá mua vào của ngân hàng thương mại nơi cá nhân mở tài khoản giao dịch. Trường hợp cá nhân không mở tài khoản tại Việt Nam thì lấy theo tỷ giá trung tâm của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tại thời điểm phát sinh thu nhập”.
Theo quy định tại Thông tư 99/2025/TT-BTC, đối với hạch toán kế toán, tỷ giá sử dụng là tỷ giá mua bán chuyển khoản trung bình của ngân hàng thương mại nơi doanh nghiệp thường xuyên có giao dịch. Việc thực hiện quy đổi với nhiều tỷ giá khác nhau sẽ gây ra khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân khi xác định thu nhập chịu thuế. Đề nghị điều chỉnh quy định tại khoản 1 Điều 17 theo hướng thống nhất với quy định tại Thông tư 99/2025/TT-BTC về quy đổi tỷ giá.
- Về thu nhập từ lãi tiền gửi (Điều 24)
Khoản 2 Điều 24 Dự thảo quy định “. Miễn thuế thu nhập của cá nhân đối với khoản lãi tiền gửi cá nhân nhận được từ lãi gửi Đồng Việt Nam, vàng, ngoại tệ tại các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng dưới các hình thức gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn, gửi tiết kiệm, chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi theo thỏa thuận.”. Đề nghị bổ sung quy định miễn thuế đối với lãi nhận được từ chuyển nhượng chứng chỉ tiền gửi. Bởi vì, phần chênh lệch thu được khi bán chứng chỉ tiền gửi (CCTG) thực chất là phần lãi tiền gửi đã tích lũy theo thời gian. Việc bán CCTG chỉ là hiện thực hóa trước hạn phần lãi mà họ đã tích lũy từ thời điểm được phát hành/mua CCTG. Mặt khác, việc bán CCTG giúp cá nhân tránh được thiệt hại tài chính so với tất toán trước hạn tiền gửi có kỳ hạn/sổ tiết kiệm (thường bị tính lãi suất thấp, dù đã gửi tiền trong thời gian dài).
- Về tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép
Khoản 2, khoản 3 Điều 26 Dự thảo quy định: “2. Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép phù hợp với quy định về điều kiện và mức tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép theo pháp luật về lao động, pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức.
- Trường hợp tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ, tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép vượt mức quy định của pháp luật thì phần vượt mức quy định tính vào thu nhập chịu thuế của cá nhân.”.
Quy định về số ngày phép năm được quy định tại Điều 113 Bộ luật Lao động 2019. Tuy nhiên, Bộ luật Lao động khuyến khích người sử dụng lao động thoả thuận các điều khoản về điều kiện làm việc tốt hơn cho người lao động trong đó có nghỉ phép. Thực tế, nhiều doanh nghiệp cung cấp cho người lao động số ngày nghỉ phép năm nhiều hơn so với quy định của luật lao động và sử dụng cho cả năm.
Do vậy, để đảm bảo quyền lợi cho người lao động, đề nghị trường hợp chi trả tiền lương, tiền công cho những ngày không nghỉ phép thuộc phần phép năm doanh nghiệp tăng thêm cho người lao động (tăng thêm so với quy định tại Điều 113 Bộ luật lao động 2019) đã được quy định trong hợp đồng lao động/thỏa ước lao động tập thể/quy chế nội bộ sẽ không được tính vào thu nhập chịu thuế. Đồng thời, bổ sung quy định hướng dẫn cụ thể về cách xác định phần vượt với trường hợp vẫn áp dụng việc tính thuế đối với phần vượt mức để tránh khó khăn cho doanh nghiệp và người lao động khi thực hiện.
- Thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân kinh doanh, đại lý bảo hiểm (Điều 45)
- Đối với lĩnh vực bảo hiểm
Khoản 3 Điều 45 Dự thảo quy định về thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ kinh doanh: “Cá nhân kinh doanh có doanh thu năm trên mức doanh thu quy định tại khoản 2 Điều này thực hiện nộp thuế theo quy định tại Điều 7 Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 và Điều 4,5 và điều 6 của Nghị Định số 68/2026/NĐ-CP ngày 05 tháng 03 năm 2026 của Chính Phủ quy định về chính sách thuế và quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh.”.
Khoản 5, Điều 4, Nghị định số 68/2026/NĐ-CP quy định hai phương pháp tính thuế là thuế suất nhân (x) doanh thu tính thuế và thu nhập tính thuế nhân (x) thuế suất. Trong đó, phương pháp thu nhập tính thuế nhân (x) thuế suất áp dụng đối với cá nhân kinh doanh có doanh thu năm trên 3 tỷ đồng và trường hợp cá nhân kinh doanh có doanh thu năm trên 500 triệu đồng đến 3 tỷ đồng lựa chọn Phương pháp này. Theo phản ánh, nếu phải áp dụng phương pháp thu nhập tính thuế nhân (x) thuế suất thì doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) sẽ gặp các khó khăn, vướng mắc sau:
– Thứ nhất, khó khăn trong việc xác định và chứng minh “chi phí hợp lý”:
+ Để xác định thu nhập tính thuế theo phương pháp này, đại lý bảo hiểm/DNBH phải chứng minh chi phí, nhưng trên thực tế đại lý bảo hiểm rất khó có hóa đơn, chứng từ hợp lệ (văn phòng, đi lại, tiếp khách, quảng cáo cá nhân…); nhiều chi phí mang tính cá nhân và không đủ điều kiện khấu trừ thuế.
+ Chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể: chi phí nào được chấp nhận, mức khống chế chi phí ra sao, trách nhiệm kiểm tra, lưu trữ chứng từ thuộc về đại lý bảo hiểm hay DNBH.
– Thứ hai, DNBH sẽ khó triển khai hàng loạt cho tất cả đại lý bảo hiểm vì số lượng đại lý bảo hiểm rất lớn, nhiều đại lý hoạt động bán thời gian, phân tán địa lý. Nếu áp dụng phương pháp thu nhập tính thuế nhân × thuế suất sẽ dẫn đến gánh nặng tuân thủ và chi phí quản lý cho DNBH (nhân sự, hệ thống, tư vấn thuế); Phát sinh rủi ro khi DNBH không kiểm soát được chi phí thực tế của đại lý bảo hiểm nhưng lại bị liên đới trách nhiệm khi khấu trừ/kê khai không chính xác. Trong khi đó, phương pháp thuế suất nhân (x) doanh thu tính thuế đơn giản, DNBH có thể khấu trừ, kê khai và nộp thay một cách minh bạch, thống nhất.
Các DNBH đề xuất được kê khai, khấu trừ cho phần thu nhập của đại lý bảo hiểm có doanh thu năm trên 500 triệu trở lên (bao gồm cả thu nhập trên 3 tỷ đồng) theo công thức: thuế suất nhân (x) doanh thu tính thuế, trong đó: i) Mức thuế suất là 5%; ii) Doanh thu tính thuế là tất cả các khoản mà DNBH chi trả cho đại lý bảo hiểm phát sinh từ hoạt động đại lý bảo hiểm theo thỏa thuận tại hợp đồng đại lý bảo hiểm.
- Đối với lĩnh vực thương mại điện tử
Đề nghị bổ sung hướng dẫn xác định doanh thu đối với thu nhập từ kinh doanh trong lĩnh vực thương mại điện tử, không bao gồm các khoản người bán giảm giá cho người mua. Bởi vì, các khoản người bán giảm giá cho người mua là các khoản giảm trừ khỏi thu nhập của cá nhân nên cần được trừ ra khỏi doanh thu tính thuế của cá nhân kinh doanh, để đảm bảo công bằng và phù hợp với thực tiễn.
- Về giảm trừ gia cảnh (Điều 47)
– Điểm a khoản 3 Điều 47 Dự thảo quy định, các cá nhân không có nơi nương tựa mà người nộp thuế phải trực tiếp nuôi dưỡng, phải “đáp ứng điều kiện quy định tại điểm a, b khoản 3 Điều 47 và “thuộc danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo theo quy định của pháp luật”. Trong trường hợp, người này sống cùng với người nộp thuế thì yêu cầu thuộc danh sách hộ nghèo, hộ cần nghèo là chưa hợp lý. Đề nghị sửa đổi quy định trên theo hướng “thuộc danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo theo quy định của pháp luật trong trường hợp không sống cùng với người nộp thuế”.
– Đề nghị rà soát thuật ngữ tại khoản 4 Điều 47 Dự thảo để đảm bảo thống nhất với quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, ví dụ: “chu cấp nuôi dưỡng”, Luật Hôn nhân và gia đình quy định là “cấp dưỡng”, “không còn thân nhân”, Luật Hôn nhân và Gia đình không có khái niệm “thân nhân”, vì vậy cần quy định cụ thể các đối tượng này.
- Về giảm trừ chi y tế, giáo dục (Điều 49)
– Khoản 2 Điều 49 Dự thảo đưa ra hai phương án về các định thu nhập từ tiền lương, tiền công các khoản chi cho y tế, giáo dục – đào tạo của người nộp thuế và người phụ thuộc được giảm trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế.
Phương án 1: khoản chi cho khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở y tế trong nước không quá 20 triệu đồng/năm. Khoản chi cho giáo dục, đào tạo tại cơ sở giáo dục – đào tạo trong nước không quá 21 triệu đồng/năm;
Phương án 2: các mức tương ứng là 23 triệu đồng/năm và 24 triệu đồng/năm
Phương án 2 là hợp lý bởi vì, phản ánh sát hơn tương quan giữa mức thu nhập và mặt bằng khi tiêu thực tế cho y tế, giáo dục của người dân và góp phần giảm gánh nặng tài chính, tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động.
- Về khấu trừ thuế, khai thuế (Lao động vãng lai và Thưởng cổ phiếu) (Điều 50)
– Về thu nhập vãng lai
Khoản 2 Điều 50 Dự thảo quy định “Tổ chức, cá nhân trả tiền lương, tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng hoặc ký hợp đồng lao động dưới 3 tháng mà mức thu nhập từ 3 triệu đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế, khai thuế thay, nộp thuế thay cho cá nhân theo tỷ lệ 10% trên thu nhập trước khi trả thu nhập cá nhân.”.
Hiện nay, do không có căn cứ pháp lý, nhiều tổ chức trả nhập không thực hiện khấu trừ với thu nhập dưới 2 triệu đồng dù được cá nhân đề nghị, yêu cầu thực hiện. Điều này khiến cá nhân phải mất thêm thời gian quyết toán dù số tiền thu nhập vãng lai không nhiều. Nếu cá nhân có bất cứ khoản thu nhập vãng lai nào chưa được khấu trừ thuế thì đều không được ủy quyền quyết toán thuế năm.
Do vậy, đề nghị bổ sung quy định, trường hợp mức thu nhập dưới 3 triệu đồng/lần thì có thể lựa chọn khấu trừ thuế, khai thuế thay theo thỏa thuận với cá nhân.
– Thu nhập từ thưởng cổ phiếu
Điểm a khoản 3 Điều 50 Dự thảo quy định: “Trường hợp người lao động được thưởng cổ phiếu thì chưa phải tính vào thu nhập từ tiền lương, tiền công khi nhận cổ phiếu thưởng. Khi nhận được thu nhập từ chuyển nhượng số cổ phiếu này, cá nhân phải nộp thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công; đồng thời khi chuyển nhượng cá nhân phải thực hiện nộp thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn quy định tại Điều 53 Nghị định này hoặc thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán quy định tại Điều 54 Nghị định này.”.
Đề nghị quy định rõ trường hợp người lao động được thưởng cổ phiếu theo “chương trình dành riêng cho người lao động” thì chưa phải tính vào thu nhập từ tiền lương, tiền công khi nhận cổ phiếu thưởng để phân biệt với trường hợp người lao động nhận cổ phiếu thưởng khi giao dịch chứng khoán. Bởi vì, sẽ có trường hợp người lao động là cổ đông hiện hữu của doanh nghiệp do mua cổ phiếu trên sàn chứng khoán và nhận được cổ phiếu thưởng như là các cổ đông khác. Trường hợp này, người lao động sẽ áp dụng quy định về đầu tư vốn.
- Về ủy quyền quyết toán thuế (Điều 51)
Điểm a khoản 2 Điều 51 Dự thảo quy định: “Trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, người nộp thuế được ủy quyền cho tổ chức chi trả thu nhập quyết toán thuế thay trong trường hợp sau: a) Chỉ có một nguồn thu nhập từ tiền lương, tiền công phát sinh tại một tổ chức;”.
Để đảm bảo thống nhất với điểm d khoản 6 Điều 8 Nghị định 126/2020/NĐ-CP đề nghị bổ sung vào điểm a như sau: “a) Chỉ có một nguồn thu nhập từ tiền lương, tiền công phát sinh tại một tổ chức (bao gồm cả trường hợp người lao động được điều chuyển từ tổ chức cũ đến tổ chức mới do tổ chức cũ thực hiện sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp hoặc tổ chức cũ và tổ chức mới trong cùng một pháp nhân hoặc một tập đoàn kinh tế, tổng công ty theo Luật Doanh nghiệp)”.
- Về thu nhập từ bản quyền (Điều 59)
Khoản 2 Điều 59 Dự thảo quy định “Thu nhập tính thuế từ tiền bản quyền là phần thu nhập vượt trên 20 triệu đồng theo hợp đồng, không phụ thuộc vào số lần thanh toán; trường hợp cùng một đối tượng quyền sở hữu trí tuệ nhưng thực hiện nhiều hợp đồng thì tính trên tổng các hợp đồng.”. Khái niệm “cùng một đối tượng quyền sở hữu trí tuệ” là chưa rõ, có thể dẫn tới việc cộng gộp thu nhập trong các trường hợp bản chất là các giao dịch độc lập theo giai doạn hoặc theo phạm vi ủy quyền.
Để đảm bảo tính rõ ràng, đề nghị làm rõ tiêu chí xác định “cùng một đối tượng quyền sở hữu trí tuệ” và nguyên tắc cộng gộp thu nhập trong trường hợp nhiều hợp đồng, đặc biệt đối với các hợp đồng ký theo từng giai đoạn, từng phạm vi sử dụng hoặc từng thời kỳ khai thác.
Khoản 3 Điều 59 Dự thảo quy định: “Thời điểm xác định thu nhập tính thuế là thời điểm tổ chức, cá nhân trả tiền bản quyền cho người nộp thuế.”. Trong thực tế, tiền bản quyền thường được chi trả nhiều lần theo doanh thu khai thác hoặc theo giai đoạn. Nếu không làm rõ, có thể phát sinh cách hiểu và áp dụng không thống nhất về thời điểm tính thuế, gây khó khăn cho người nộp thuế và cơ quan thuế.
Đề nghị quy định rõ rõ thời điểm xác định thu nhập trong trường hợp trả tiền bản quyền nhiều lần hoặc trả theo tiến độ, doanh thu khai thác, để bảo đảm thống nhất với quy định tại khoản 2 Điều này.
- Về hiệu lực thi hành (Điều 69)
Nghị định dự kiến ban hành giữa năm 2026 với rất nhiều thay đổi về định mức (như vãng lai tăng từ 2tr lên 3tr, ăn ca, trúng thưởng). Nếu không có điều khoản chuyển tiếp, các doanh nghiệp sẽ phải khai bổ sung hồi tố lại toàn bộ 6 tháng đầu năm, gây quá tải và phát sinh tiền chậm nộp.
Đề nghị bổ sung quy định chuyển tiếp theo hướng, các khoản đã kê khai tính thuế từ 01/01/2026 đến ngày Nghị định có hiệu lực theo luật cũ thì không phải nộp lại hồ sơ khai thuế các tháng/quý, mà chỉ thực hiện điều chỉnh vào hồ sơ khai quyết toán thuế năm 2026.
- Về chính sách ưu đãi thuế với hoạt động Đổi mới sáng tạo, Khoa học công nghệ, Chuyển đổi số
Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân hiện đang chưa có cơ chế ưu đãi đối với việc chuyển giao công nghệ, bản quyền phần mềm, chi phí đào tạo nâng cao kỹ năng số (AI, Big Data, Blockchain) hay cơ chế thử nghiệm công nghệ (Sandbox). Điều này là chưa đồng bộ với chính sách của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Đề nghị bổ sung hướng dẫn chi tiết miễn thuế (hoặc thuế suất 0%) đối với thu nhập từ chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ và bản quyền phần mềm. Thu nhập từ các dự án đổi mới sáng tạo (sáng kiến) không phải chịu thuế thu nhập cá nhân. Quy định rõ chi phí cử nhân sự đi đào tạo kỹ năng công nghệ cao không tính vào thu nhập chịu thuế của người lao động. Có cơ chế hướng dẫn áp dụng ưu đãi thuế thu nhập cá nhân đặc biệt cho nhân sự tham gia các dự án thí điểm công nghệ (Sandbox).
Trên đây là một số ý kiến tổng hợp ban đầu của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đối với Dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân. Rất mong quý Cơ quan cân nhắc để chỉnh sửa, hoàn thiện.
Trân trọng cảm ơn sự hợp tác của quý Cơ quan.
Website xây dựng pháp luật của VCCI