Góp phần hoàn thiện Dự thảo Luật DN thống nhất

Thứ Bảy 16:27 20-05-2006
Dự thảo Luật doanh nghiệp (thống nhất )

Đoàn Mậu Huân - Theo Hiến kế Lập pháp Số 4 tháng 10 năm 2005

Trong gần hai mươi năm qua, pháp luật về doanh nghiệp ở nước ta đã từng bước được hoàn thiện. Luật doanh nghiệp năm 1999, Luật doanh nghiệp nhà nước năm 2003 và các quy định về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam cùng với các nghị định hướng dẫn thi hành tương ứng, tạo thành hệ thống pháp luật về doanh nghiệp ở nước ta. Tuy vậy, với yêu cầu nội tại về phát triển kinh tế và yêu cầu toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, hệ thống pháp luật về doanh nghiệp đã bộc lộ những khiếm khuyết và không còn phù hợp.

Trước hết, hệ thống pháp luật về doanh nghiệp bị “chia cắt”, tách biệt áp dụng theo thành phần kinh tế. Do đó, các doanh nghiệp khác nhau về thành phần kinh tế, thì được quy định hay “đối xử” khác nhau trên hàng loạt các vấn đề như: thủ tục, điều kiện gia nhập thị trường và rút khỏi thị trường; cơ cấu, thẩm quyền và cách thức tổ chức quản lý nội bộ…

Bản thân từng luật riêng về doanh nghiệp đã bộc lộ các khiếm khuyết cần bổ sung, sửa đổi. Khiếm khuyết chung của cả hệ thống pháp luật về doanh nghiệp, kết hợp với những điểm yếu của từng luật riêng lẻ đã làm phát sinh một số hạn chế, giảm khả năng cạnh tranh của môi trường kinh doanh ở nước ta, không đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

Vì vậy, Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng và một số Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương đã khẳng định chủ trương xây dựng Luật thống nhất về doanh nghiệp, tạo mội trường kinh doanh thuận lợi, bình đẳng và phù hợp với quá trình tích cực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.

Theo đó, trong quá trình xây dựng Dự án Luật doanh nghiệp (thống nhất), Chính phủ ngay từ đầu đã ban hành những tư tưởng chỉ đạo đối với Ban soạn thảo và các cơ quan có liên quan trong việc soạn thảo Dự án Luật này. Các tư tưởng chỉ đạo đó, bao gồm:

+ Một là, thể chế hóa sâu sắc đường lối đổi mới và các chủ trương, chính sách đã được khẳng định tại Đại hội lần thứ IX của Đảng và các Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng, đặc biệt là Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành Trung ương khoá IX, như chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, coi các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chính sách phát huy tối đa nội lực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, chính sách đẩy mạnh cổ phần hóa, đổi mới quản lý doanh nghiệp nhà nước, v.v... Đồng thời, kế thừa và phát huy những tư duy mới, kinh nghiệm tốt từ những nhân tố mới trong cuộc sống xã hội. Nội dung của Luật không xóa bỏ hoặc đi ngược lại quản lý nội bộ của doanh nghiệp đã được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, nhất là Luật doanh nghiệp năm 1999.

Hai là, tiếp tục duy trì, mở rộng và phát triển quyền tự do kinh doanh: nhà đầu tư và doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đều có quyên đầu tư và kinh doanh trong tất cả các ngành nghề mà pháp luật không cấm, có quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động kinh doanh, được lựa chọn, thay đổi hình thức tổ chức quản lý nộ bộ, hình thức đầu tư thích ứng với yêu cầu kinh doanh và được nhà nước bảo hộ.

Nhà nước tôn trọng quyền tực chủ kinh doanh hợp pháp của danh nghiệp, áp dụng phổ biến chế độ đăng ký (thay cho cấp phép), xóa bỏ những quy định “xin-cho”, “phê duyệt”, “chấp thuận” bất hợp lý, gây phiền hà cho doanh nghiệp.

Ba là, tiếp tục đổi mới chức năng của Nhà nước trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, coi việc khuyến khích, hướng dẫn và trợ giúp là chức năng chính; coi nhà đầu tư và doanh nghiệp là đối tượng phục vụ, là đối tác bìnhđẳng của cơ quan hành chính nhà nước. Cần quy định rõ và đủ chi tiết cụ thể về trách nhiệm, các quan hệ giữa cơ quan nhà nước với doanh nghiệp về việc thực hiện các quan hệ đó và chế tài đối với những vi phạm của cả hai phía, doanh nghiệp và cơ quan hành chính nhà nước. Những quy định có lợi cho doanh nghiệp thì được tiếp tục thực hiện trong thời hạn đã cam kết trước đó, không hồi tố. Tôn trọng quyền của doanh nghiệp trong tổ chức, quản lý nội bộ, tự chủ thỏa thậun và định đoạt các quan hệ nội bộ của doanh nghiệp phù hợp với pháp luật Việt Nam và các cam kết quốc tế.

Bốn là, nội dung của dự án Luật doanh nghiệp phải phù hợp với những điều ước quốc tế mà nước ta đã cam kết trong các thỏa thuận đa phương và song phương, nhất là các nguyên tắc cơ bản như “đối xử quốc gia” và “Tối huệ quốc”. Đồng thời phải đón trứoc được xu thế hội nhập, góp phần xây dựng và tiếp tục hoàn thiện môi trường kinh doanh bình đẳng, minh bạch, ổn định, thông thoáng, đủ mức hấp dẫn và có sức cạnh tranh cao so với khu vực.

Trên cơ sở những quan điểm chỉ đạo đó, Dự án Luật doanh nghiệp (thống nhất) gồm 10 chương với 167 điều, trong đó bổ sung thêm 52 điều mới; bổ sung, sửa đổi 84 điều hiện có với 83 điều bổ sung sửa đổi đáng kể. Nhìn tổng quát, nội dung của Dự thảo Luật doanh nghiệp (thống nhất) đã tuân thủ đúngcác tư tưởng chỉ đạo; thể chế hoá được những chủ trương của Đảng về hội nhập, cải thiện môi trường kinh doanh và phát triển các thành phần kinh tế; nội dung Dự thảo Luật nhìn chung đã khắc phục được phần lớn những khiếm khuyết của hệ thống pháp luật về doanh nghiệp hiện hành. Kết quả các cuộc Hội thảo, tham vấn cho thấy ý kiến của đại đa số người tham dự đồng tình ủng hộ và đánh giá cao nội dung của Dự thảo luật; và cho rằng Dự thảo Luật doanh nghiệp thống nhất được thông qua sẽ tháo bỏ được hàng loạt rào cản đối với việc hình thành và phát triển doanh nghiệp; tiếp tục đóng góp lớn vào cải thiện môi trường kinh doanh ở nước ta.

Tuy nhiên, cũng còn tồn tại rất nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngược nhau về Dự án Luật này. Do vậy, dưới góc độ khoa học pháp lý, xin nêu ra, phân tích và đề xuất một số vấn đề đáng quan tâm về Dự thảo Luật doanh nghiệp thống nhất như sau:

1. Phạm vi điều chỉnh (Điều 1).

Dự thảo chỉ điều chỉnh việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân. Như vậy, so với phạm vi điều chỉnh của Luật doanh nghiệp năm 1999, phạm vi điều chỉnh của Luật doanghiệp (thống nhất) không có gì thay đổi. Do vậy, đã là Luật doanh nghiệp thống nhất, thiết nghĩ Dự thảo nên mở rộng phạm vi điều chỉnh theo hướng, điều chỉnh cả các loại hình doanh nghiệp dân doanh (gồm cả các loại hình doanh nghiệp theo luật doanh nghiệp, Luật hợp tác xã, Luật các tổ chức tín dụng hiện hành và các loại hình doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo Luật đầu tư nước ngòai tại Việt Nam) và cả các loại hình doanh nghiệp nhà nước, kể cả loại hình doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích. Bởi các lý do sau đây:

+Thứ nhất, t chỉ có một đối tượng là doanh nghiệp, nhưng lại tồn tại quá nhiều văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh, do đó, cần có luật chung để điều chỉnh một cách toàn diện đối tượng này, nhằm tránh sự tản mạn và tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho các loại hình doanh nghiệp phát triển.

+ Hiện nay doanh nghiệp nhà nước do luật doanh nghiệp nhà nước điều chỉnh. Theo đó, doanh nghiệp nhà nước được hưởng các ưu ái hơn so với các loại hình doanh nghiệp dân doanh về tín dụng, phá sản, về bù lỗ, hỗ trợ... Điều đó gây sự bất bình đẳng trong việc cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp, gây thiệt thòi cho các loại hình doanh nghiệp dân doanh.

+ Thứ ba, đối với hợp tác xã, Luật Hợp tác xã thừa nhận Hợp tác xã là một loại hình doanh nghiệp, tuy nhiên quy định tại Điều 1 của Dự thảo không thừa nhận hợp tác xã thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật. Nếu để nội dung quy định như Điều 1 Dự thảo, Hợp tác xã sẽ là “đứa con ngoài giá thú” nên phải được đăng ký “khai sinh” riêng theo Luật Hợp tác xã năm 2003, chứ không thể theo Luật doanh nghiệp chung. Như vậy, là nỗ lực xây dựng pháp luật cho một hệ thống luật thống nhất và hoàn thiện đối với việc thành lập, quản lý, điều hành các loại hình doanh nghiệp là chưa được triệt để lắm. Nếu cho rằng hợp tác xã là loại hình doanh nghiệp có đặc thù trong tổ chức và hoạt động khác với các loại hình doanh nghiệp khác để không đưa hợp tác xã vào phạm vi điều chỉnh là không thỏa đáng.

Bởi lẽ, nếu doanh nghiệp nào có đặc thù riêng, không thể điều chỉnh hết được bằng Luật doanh nghiệp chung, thì Dự thảo nên quy định dẫn chiếu đến luật chuyên ngành.

+ Thứ tư, trong xu thế hội nhập và thu hút đầu tư, cần tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài có điều kiện đầu tư vào Việt Nam. Do vậy, Dự thảo không nên tách bạch ra nhiều loại hình doanh nghiệp để ban hành nhiều loại văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh đối với mỗi loại hình doanh nghiệp tương ứng, gây khó khăn cho các nhà đầu tư nước ngoài trong quá trình tìm hiểu luật pháp Việt Nam cho quyết định đầu tư của mình tại Việt Nam.

Chính vì các lý do nói trên, nên sửa lại Điều 1 của Dự thảo như sau:

“Luật này quy định việc thành lập, tổ chức, quản lý và hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân và hợp tác xã”.

2. áp dụng Luật doanh nghiệp và các luật có liên quan (Điều 3).

Khoản 2 Điều 3 của Dự thảo quy định chưa chính xác về mặt câu chữ. Bởi lẽ, Dự thảo Luật doanh nghiệp là một luật thống nhất, luật chung, còn luật chuyên ngành khác tuy là luật đặc thù, nhưng vẫn nằm trong một hệ thống pháp luật Việt Nam.

Do đó, Luật chuyên ngành và luật chung không thể có quy định mâu thuẫn với nhau được, nhằm đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật Việt Nam, nên thiết kế lại 1quy định này như sau:

“ Trong trường hợp luật chuyên ngành có quy định đặc thù cho một loại hình doanh nghiệp nhất định thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật này, thì áp dụng theo quy định của Luật chuyên ngành đó”.

Giải thích từ ngữ

- Dự thảo nên giải thích rõ khái niệm “công ty” để có cách hiểu thống nhất trong toàn bộ Dự thảo, theo hướng kế thừa các quy định của pháp luật hiện hành như Luật doanh nghiệp năm 1999, Luật doanh nghiệp nhà nước năm 2003… Có thể định nghĩa khái niệm công ty như sau:

“Công ty” là cách gọi khác của các loại hình doanh nghiệp, bao gồm: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, công ty có vốn đầu tư nước ngoài và công ty nhà nước.

- Khoản 4 Điều 4 của Dự thảo cần bổ sung đối tượng hợp tác xã là khách thể của hoạt động góp vốn. Bởi xét về bản chất, hợp tác xã cũng là loại hình doanh nghiệp có chế độ góp vốn của các thành viên (xã viên).

“ “Góp vốn” là việc đưa tài sản vào công ty, hợp tác xã để trở thành chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu chung của công ty, hợp tác xã. Tài sản góp vốn có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong Điều lệ công ty, Điều lệ hợp tác xã do thành viên góp để tạo thành vốn của công ty”.

- Quy định từ “cấm” tại mỗi khoản ở Điều 11 của Dự thảo quy định thừa bỏ từ “cấm” đầu các khoản của Điều luật, thay bằng một câu đầu tiên trên đầu của Điều luật là: “Các hành vi bị cấm, bao gồm:”.

5. Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp (Điều 9, Điều 10).

Quyền của doanh nghiệp (Điều 9).

+ Quy định về các quyền của doanh nghiệp tại Điều 9 tuy có một số quyền mang tính chất đặc thù của doanh nghiệp, tuy nhiên cũng có một số quyền đã được một số văn bản quy phạm pháp luật quy định khá đầy đủ, nhưng Dự thảo vẫn đưa vào, chẳng hạn quyền trở thành nguyên đơn và quyền tham gia tố tụng (khoản 10 Điều 9 Dự thảo). Đây là quyền đã được quy định một cách đầy đủ trong Bộ luật tố tụng dân sự. Do vậy, cần nghiên cứu bỏ các quyền đã được ghi nhận trong các văn bản luật khác, iđồng thời bổ sung các quyền mang tính chất đặc thù của doanh nghiệp.

Nghĩa vụ của doanh nghiệp

+ Dự thảo nên thiết kế lại khoản 1 Điều 10 để tránh trùng lắp, mâu thuẫn với Luật đầu tư. Bởi lẽ, theo quy định như Dự thảo Luật đầu tư sắp thông qua tại kỳ họp thứ 8 sắp tới, dự án đầu tư gồm hai hình thức là chấp thuận đầu tư và đăng ký đầu tư. Do vậy, nếu chỉ quy định như khoản 1 Điều 10 là: “kinh doanh theo đúng các ngành, nghề đã đăng ký” là chưa đầy đủ so với Dự thảo Luật đầu tư.

+ Dự thảo nên thiết kế lại khoản 4 Điều 10 trên cơ sở Pháp lệnh Chất lượng hàng hoá. Bởi lẽ, theo quy định của Pháp lệnh này thì tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh đăng ký tiêu chuẩn Việt Nam, tiêu chuẩn ngành, tiêu chuẩn quốc tế; còn đối với tiêu chuẩn cơ sở thì không đăng ký mà chỉ công bố để áp dụng trong cơ sở của mình và chịu trách nhiệm về tiêu chuẩn chất lượng hàng hoá do mình công bố. Do vậy, khoản 4 Điều, 10 nên thiết kế lại như sau: “Bảo đảm chất lượng hàng hóa theo tiêu chuẩn đã đăng ký hoặc do mình công bố”.

6. Về thành lập và đăng ký kinh doanh (Chương II).

- Về quyền thành lập doanh nghiệp (Điều 11).

Dự thảo nên thiết kế lại điểm Điều khoản 1 Điều 12 theo hướng cho phép người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nhưng được tại ngoại có quyền thành lập, góp vốn và quản lý. Bởi lẽ, theo quy định của Hiến pháp thì một người bị coi là có tội, khi đã có bản án hoặc quyết định của tòa án có hiệu lực pháp luật. Do đó, để bảo đảm quyền lợi của họ trong kinh doanh, tranh thủ được thời cơ kinh doanh, nếu pháp luật nghiêm cấm họ trong trường hợp này là xâm phạm quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp.

- Về trình tự thành lập doanh nghiệp và đăng ký kinh doanh (Điều 14).


- Đề nghị Dự thảo nên quy định rõ về thủ tục thành lập và đăng ký kinh doanh theo hướng quy định tách bạch hai đối tượng: Một nhóm đối tượng chỉ tiến hành thủ tục đăng ký kinh doanh, không phải thực hiện thủ tục thành lập; Một nhóm đối tượng phải tiến hành hai thủ tục thành lập rồi mới đăng ký kinh doanh. Đối với nhóm đối tượng phải thực hiện hai thủ tục, thì Dự thảo cũng nên quy định theo hướng dẫn chiếu các văn bản quy phạm pháp luật đặc thù, chẳng hạn việc thành lập hợp tác xã thì các bước vận động thành lập, thông báo, hội nghị thành lập...
nên dẫn chiếu theo quy định của Luật hợp tác xã; hoặc việc thành lập doanh nghiệp nhà nước, nên dẫn chiếu theo quy định của Luật doanh nghiệp Nhà nước...

7. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (Mục II Chương III).

Đề nghị bỏ quy định công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do một cá nhân làm chủ, bởi các lý do sau:

+ Thứ nhất, quy định như vậy sẽ làm vô hiệu hóa hình thức doanh nghiệp tư nhân như hiện nay. Điều này sẽ làm xáo trộn trong hoạt động kinh doanh, bởi lẽ giữa trách nhiệm vô hạn và trách nhiệm hữu hạn thì không ai muốn chọ hình thức trách nhiệm vô hạn như doanh nghiệp tư nhân hiện nay. Đồng thời dễ phát sinh tiêu cực là các chủ doanh nghiệp tư nhân hiện nay đổ xô đăng ký lại hình thức hoạt động là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.

+ Thứ hai, tuy hiện nay bản chất của doanh nghiệp có 100% vốn nước ngoài hoạt động dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, nhưng đây là biểu hiện của sự yếu kém trong quản lý tài sản của nhà đầu tư ở nước ngoài, Nhà nước nước ta mới thừa nhận hình thức này. Còn đối với cá nhân Việt Nam đứng ra thành lập doanh nghiệp tư nhân, thì việc quản lý tài sản của họ không phức tạp như đối với nhà đầu tư nước ngoài.

+ Thứ ba, nếu thừa nhận hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do một cá nhân làm chủ sẽ dẫn đến hậu quả khó lường, như lừa đảo chiếm đoạt tài sản, phá sản nhanh chóng sau một thời gian ngắn hoạt động. Bởi lẽ, đa số người dân Việt Nam còn nghèo, nên số vốn của họ bỏ ra đầu tư không được lớn mạnh như các cá nhân nước ngoài, nên dẫn đến khai báo vốn điều lệ gian dối để đối tác và khách hàng tin tưởng mà hợp tác, nhưng thực chất thì vốn rất ít hoặc không có đồng vốn nào, nhưng vẫn kinh doanh và lừa đảo đã diễn ra không phải là không phổ biến lâu nay. Hơn nữa, vốn ít, cạnh tranh kém, nguy cơ phá sản là không phải không lớn, hậu quả là tạo ngày càng nhiều những “u nhọt” cho nền kinh tế.

- NkĐề nghị nên thiết kế lại khoản 1, Điều 70 theo hướng: việc tăng giảm vốn điều lệ là quyền tự định đoạt của công ty trong khuôn khổ pháp luật. Theo đó, công ty có quyền tăng, giảm vốn điều lệ và cơ quan đăng ký kinh doanh phải chấp nhận, nếu việc tăng giảm đó không trái với quy định của pháp luật. Còn đối với các trường hợp: giảm vốn điều lệ xuống mức thấp hơn mức vốn pháp định, mà theo quy định của pháp luật phải có vốn pháp định đối với một số ngành nghề hoặc việc giảm vốn pháp định đó nhằm trốn tránh một nghĩa vụ của công ty... cần phải nghiên cứu và trao quyền cho cơ quan đăng ký kinh doanh quyết định không cho phép đăng ký việc giảm vốn điều lệ này. Có như vậy mới rõ ràng và khả thi hơn.

8. Công ty hợp danh (Chương V - từ Điều 124 đến Điều 134).

- Về tư cách pháp nhân của công ty hợp danh (Điều 124).

Đề nghị thiết kế lại khoản 2 Điều 124 lại theo hướng: quy định công ty hợp danh là một tổ chức không có tư cách pháp nhân. Bởi lẽ, như khoản 2 Điều 124 quy định công ty hợp danh có tư cách pháp nhân là trái với quy định tại Điều 84 Bộ luật dân sự mới. Theo quy định tại Điều 84 của Bộ luật dân sự mới, một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau:

- Được thành lập hợp pháp;

- Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ;

- Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tư chịu trách nhiệm bằng tài sản đó;

- Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập.

Như vậy, căn cứ vào quy định này và nội dung quy định trong Dự thảo về công ty hợp danh, xét thấy, công ty hợp danh như quy định trong Dự thảo là chưa hội đủ các điều kiện quy định tại Điều 84 Bộ luật dân sự về điều kiện: Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó và điều kiện nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập. Bởi lẽ, theo như Dự thảo, công ty hợp danh không có tài sản độc lập với tài sản của cá nhân, cơ quan, tổ chức khác mà các thành viên cùng góp vốn, góp sức và liên đới chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình. Đồng thời giám đốc kiêm chủ tịch hội đồng quản trị không nhân danh công ty tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập.

Do vậy, để bảo đảm tính thống nhất, không mâu thuẫn giữa các quy định trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Dự thảo nên bỏ quy định này.

- Về việc phải thành lập công ty hợp danh với một số ngành nghề.

Đề nghị một số dịch vụ nhất định như kiểm toán, kế toán, dịch vụ pháp lý... nên quy định phải đăng ký kinh doanh dưới hình thức công ty hợp danh. Bởi lẽ, đây là những ngành nghề đòi hỏi trách nhiệm vô hạn của người thực hiện dịch vụ. Hơn nữa, đối với các ngành nghề này không chỉ dừng lại ở trách nhiệm dân sự, mà còn có thể có phát sinh trách nhiệm hình sự, nếu hành vi của người cung cấp dịch vụ có hành vi cấu thành tội phạm trong hành nghề.

9.Quản trị nội bộ doanh nghiệp.

a)Quyền của các thành viên công ty TNHH(Điều 40.

- mà là một quyền cơ bản
- Cần quy định trách nhiệm của Chủ tịch Hội đồng thành viên trong trường hợp không triệu tập họp Hội đồng thành viên theo quy định (trách nhiệm ở đây có thể là trách nhiệm bồi thường vật chất, có thể là trách nhiệm hình sự)đề
. Trong trường hợp, Chủ tịch Hội đồng thành viên không triệu tập họp Hội đồng thành viên theo quy định, gây ra thiệt hại cho công ty, thì phải chịu trách nhiệm bồi thường theo quy định của Bộ luật dân sự; nếu hành vi cấu thành tội phạm thì phải chịu trách nhiệm theo quy định của Bộ luật hình sự.

b ) Xử lý phần vốn góp (Điều 44).

Khoản 1, Điều 44 Dự thảo quy định chưa được hợp lý, bởi lẽ Luật doanh nghiệp năm 1999 cũng có quy định tương tự, như trong thực tế quy định này là không khả thi, chủ yếu trường hợp phần vốn góp của thành viên là cá nhân bị chết hoặc bị tòa án tuyên bố là đã chết mà không có người thừa kế, người thừa kế từ chối nhận thừa kế hoặc bị truất quyền thừa kế thì công ty được thừa kế giá trị phần vốn góp đó. Trong trường hợp có người có quyền và lợi ích liên quan phát hiện và khởi kiện ra tòa án, thì tòa mới quyết định là nộp phần vốn góp đó vào ngân sách Nhà nước.
Vì vậy, nên quy định này thiết kế lại khoản 1 Điều 44 theo hướng: “Trường hợp phần vốn góp của thành viên là cá nhân bị chết hoặc bị tòa án tuyên bố là đã chết mà không có người thừa kế, người thừa kế từ chối nhận thừa kế hoặc bị truất quyền thừa kế thì công ty được thừa kế giá trị phần vốn góp đó; nếu có người phát hiện khởi kiện ra tòa án về phần vốn góp này, thì tòa án xử lý hoặc giao phần vốn góp này cho người thừa kế hợp pháp, hoặc nộp vào ngân sách nhà nước nếu không có người thừa kế hợp pháp”.

c)Phân phối thu nhập của người quản lý và của người lao động ( Điều 57).

Đề nghị cần quy định mức khống chế tối đa về thu nhập của người quản lý để bảo vệ quyền lợi của người lao động và quyền lợi của nhà nướcTheo đó, cần quy định các khoản thù lao, tiền lương, thưởng cho Chủ tịch Hội đồng thành viên,Hội đồng thành viên, giám đốc (tổng giám đốc), những người quản lý khác là thành viên của công ty và những người quản lý không phải là thành viên của công ty vào chi phí kinh doanh của công ty; đồng thời, nên hạn chế chi phí này ở một tỷ lệ phần trăm nhất định trong tổng số lợi nhuận thu được sau thuế và các nghĩua vụ tài chính khác của công ty.

d) Tiêu chuẩn người đại diện theo ủy quyền (Điều 47).

Quy định về quyền của người đại diện theo ủy quyền như trong Dự thảo là một điều tiến bộ. Tuy nhiên, không tán thành với quy định tại khoản 2 của Dự thảo người đại diện theo ủy quyền phải có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm trong quản lý kinh doanh hoặc trong ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh chủ yếu của công ty là điều không cần thiết. Bởi lẽ, thành viên của công ty là người góp vốn vào công ty nên họ tự nhận thức được quyền lợi của mình.

Hơn nữa, trong kinh doanh, thời gian quý hơn vàng bạc, nếu đợi tìm người đủ tiêu chuẩn để ủy quyền thì có thể trễ nải công việc và đánh mất cơ hội kinh doanh.
Vì vậy, Dự thảo không nên quy định điều kiện về trình độ chuyên môn, kinh nghiệm của người được ủy quyền, mà nên để cho người ủy quyền tự quyết định vì lợi ích riêng của thành viên đó trong lợi ích chung của công ty.

Nhóm các công ty

Việc nhóm các công ty như trong Dự thảo là điểm tiến bộ so với các quy định của pháp luật hiện hành. Tuy nhiên, Dự thảo cần quy định thêm một số trường hợp khác như: hình thức các công ty liên kết, tập đoàn, nhóm công ty liên kết bắt buộc theo quy trình công nghệ như quy định của các nước có nền kinh tế phát triển, phù hợp với thực tế phát triển của nền kinh tế và xu thế toàn cầu hóa hiện nay.

Trên đây là một số ý kiến đóng góp cho Dự án Luật doanh nghiệp thống nhất, một mặt là đưa ra vấn đề để các nhà chuyên môn quan tâm nghiên cứu, mặt khác là để các nhà lập pháp tham khảo, quyết định lựa chọn giải pháp tối ưu, nhằm tạo sự thống nhất và khả thi cho Dự án Luật doanh nghiệp thống nhất nói riêng và hệ thống pháp luật của nước ta nói chung.

Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Ngãi

Các văn bản liên quan