Góp ý dự thảo Nghị định quản lý, cung cấp và sử dụng phát thanh, truyền hình

Thứ Năm 09:42 19-03-2026

Kính gửi: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trả lời Công văn số 915/BVHTTDL-PTTH&TTĐT của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc đề nghị góp ý Dự thảo quản lý, cung cấp và sử dụng phát thanh, truyền hình (sau đây gọi tắt là Dự thảo), Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), có một số ý kiến ban đầu như sau:

  1. Giấy phép biên tập kênh chương trình nước ngoài trên dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền (Điều 6)

Theo quy định tại điểm đ, e khoản 1 Điều 6 Dự thảo quy định, điều kiện cấp giấy phép biên tập kênh chương trình nước ngoài trên dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền gồm:

– “Có năng lực tài chính cần thiết thể hiện bởi dự toán chi phí biên tập hoặc biên tập, biên dịch trong 01 năm và văn bản chứng minh nguồn tài chính hợp pháp bảo đảm thực hiện công tác biên tập, biên dịch theo dự toán” (điểm đ). Quy định này được hiểu nhằm đảm bảo khả năng tài chính của cơ quan báo chí để thực hiện biên tập kênh chương trình nước ngoài trên dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền. Điều này là không cần thiết và chưa phù hợp với mục tiêu của quy định về điều kiện kinh doanh (nhằm đảm bảo các lợi ích công cộng theo quy định tại khoản 1 Điều 7 Luật Đầu tư). Việc đảm bảo năng lực tài chính để vận hành hoạt động kinh doanh là yếu tố mà tổ chức buộc phải tính toán và tự phải đáp ứng, Nhà nước không cần thiết phải can thiệp trong trường hợp này.

– “Có bản quyền hoặc văn bản cho phép được sử dụng kênh chương trình nước ngoài tại Việt Nam theo quy định của pháp luật” (điểm e). Yêu cầu tài liệu này trong hồ sơ xin cấp phép là chưa hợp lý, bởi vì tại thời điểm này tổ chức chưa được phép biên tập kênh chương trình nước ngoài trên dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền, vì vậy rất khó để có “văn bản cho phép được sử dụng kênh chương trình nước ngoài tại Việt Nam”.

Từ những phân tích, đề nghị bỏ quy định tại điểm đ, e khoản 1 Điều 6 Dự thảo.

  1. Hồ sơ, thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký cung cấp kênh chương trình nước ngoài trên dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền (Điều 10)

Theo quy định tại khoản 2 Điều 10 Dự thảo, thời gian để xem xét tính hợp lệ của hồ sơ là 10 ngày làm việc tính từ ngày nhận hồ sơ, thời gian để xem xét cấp giấy chứng nhận đăng ký cung cấp kênh chương trình nước ngoài trên dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền cho doanh nghiệp là 24 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ. Như vậy, thời gian để xem xét cấp giấy phép là 34 ngày làm việc tính từ ngày nhận được hồ sơ. Đây là khoảng thời gian khá dài (gần 02 tháng) cho thủ tục cấp đăng ký cung cấp kênh chương trình nước ngoài trên dịch vụ phát thanh truyền hình. Các tài liệu trong hồ sơ xin cấp phép là khá rõ ang, việc phải mất đến gần 02 tuần để xem xét hồ sơ có đầy đủ, đúng quy định không là dài, khi so sánh với các thủ tục hành chính tương tự khác. Trong bối cảnh, Chính phủ đang thúc đẩy mạnh mẽ về cải cách thủ tục hành chính, đề nghị xem xét giảm thời gian giải quyết thủ tục hành chính xuống so với quy định tại Dự thảo, có thể cân nhắc giảm thời gian xem xét tính hợp lệ của hồ sơ là 03 ngày làm việc, thời gian thẩm định và cấp phép là 15 ngày làm việc.

  1. Hồ sơ, thủ tục sửa đổi, bổ sung giấy chứng nhận đăng ký cung cấp kênh chương trình nước ngoài trên dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền (Điều 11)

Theo quy định tại khoản 1 Điều 11 Dự thảo, trường hợp thay đổi “chủ sở hữu kênh chương trình nước ngoài, thể loại kênh chương trình, nội dung kênh chương trình” doanh nghiệp sẽ phải thực hiện thủ tục như thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký lần đầu. Đối với các trường hợp thay đổi khác, doanh nghiệp sẽ thực hiện thủ tục sửa đổi, bổ sung giấy chứng nhận đăng ký.

Đối với thủ tục đề nghị sửa đổi, bổ sung giấy chứng nhận đăng ký, hồ sơ gồm: (1) văn bản đề nghị trong đó nêu rõ lý do và thuyết minh chi tiết những nội dung đề nghị thay đổi kèm theo văn bản của ang truyền hình nước ngoài xác nhận về những nội dung thay đổi; (2) văn bản mô tả của ang truyền hình nước ngoài về nội dung kênh chương trình; (3) khung phát sóng của kênh chương trình trong vòng 01 (một) tháng và khung này có thời gian trong vòng không quá 06 (sáu) tháng kể từ ngày nộp hồ sơ, kèm theo bản dịch tiếng Việt có chứng thực chữ ký người dịch đối với trường hợp văn bản được soạn bằng tiếng nước ngoài.

Với trường hợp các thay đổi không liên quan đến nội dung, thể loại kênh chương trình, yêu cầu trong hồ sơ phải có văn bản (2), (3) là không cần thiết, bởi vì đây là những thông tin không bị thay đổi và cơ quan cấp phép đã có trước đó. Để đảm bảo đơn giản hóa thủ tục hành chính, đề nghị trong hồ sơ doanh nghiệp chỉ cần cung cấp văn bản đề nghị trong đó nêu rõ những nội dung thay đổi và không phải cung cấp văn bản (2), (3).

Về thời gian giải quyết thủ tục hành chính, theo quy định tại khoản 2 Điều 11 Dự thảo, 26 ngày làm việc (bao gồm 10 ngày làm việc xem xét tính hợp lệ của hồ sơ; 16 ngày làm việc thẩm định hồ sơ) là khá dài cho thủ tục sửa đổi, bổ sung Giấy chứng nhận đăng ký cung cấp kênh, nhất là trong trường hợp các thay đổi này đơn giản, không quá phức tạp. Đề nghị xem xét giảm thời gian giải quyết thủ tục hành chính xuống khoảng 10 ngày làm việc trong đó 03 ngày làm việc xem xét tính hợp lệ của hồ sơ, 07 ngày làm việc thẩm định và cấp phép.

  1. Xuất khẩu, nhập khẩu chương trình, kênh chương trình phát thanh, truyền hình (Điều 13)

Khoản 1 Điều 13 Dự thảo quy định “các cơ quan báo chí hoạt động phát thanh, hoạt động truyền hình hoặc doanh nghiệp có ngành nghề kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu được thực hiện xuất khẩu các chương trình, kênh chương trình phát thanh, kênh chương trình truyền hình trong nước”. Việc chỉ cho phép doanh nghiệp có ngành nghề kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu được phép xuất khẩu các chương trình, kênh chương trình phát thanh, kênh chương trình truyền hình trong nước là chưa hợp lý. Bởi vì, xuất khẩu các chương trình, kênh chương trình phát thanh, kênh chương trình truyền hình trong nước không phải là hoạt động kinh doanh gắn với điều kiện, cần kiểm soát vì vậy không cần thiết phải giới hạn chủ thể được xuất khẩu. Mặt khác, hiện nay, các văn bản pháp luật chuyên ngành không còn xem xét ngành nghề đăng ký kinh doanh để xác định xem doanh nghiệp có được phép kinh doanh trong ngành nghề đó hay không. Từ các phân tích này, đề nghị sửa đổi quy định này theo hướng doanh nghiệp thành lập theo quy định của pháp luật được thực hiện xuất khẩu các chương trình, kênh chương trình phát thanh, kênh chương trình truyền hình trong nước.

  1. Nền tảng số phát thanh, truyền hình quốc gia và công cụ số giám sát hoạt động phát thanh, truyền hình trên không gian mạng (Điều 14)

Khoản 2 Điều 14 Dự thảo quy định, “Trong trường hợp chưa có quy định hướng dẫn cụ thể của pháp luật, đối với việc thử nghiệm có kiểm soát các sản phẩm dịch vụ dựa trên công nghệ mới, ứng dụng trong lĩnh vực phát thanh, truyền hình, phát triển nền tảng số, phát triển người dùng, cơ quan, đơn vị phải lập đề án thử nghiệm trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định”. Quy định này đang chưa rõ về trình tự thủ tục để thử nghiệm các sản phẩm này, để đảm bảo thuận lợi khi thực hiện, đề nghị quy định rõ trình tự, thủ tục này.

Trên đây là một số ý kiến  ban đầu của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đối với Dự thảo quản lý, cung cấp và sử dụng phát thanh, truyền hình. Rất mong quý Cơ quan cân nhắc để chỉnh sửa, hoàn thiện.

Trân trọng cảm ơn sự hợp tác của quý Cơ quan.