Tổng hợp vướng mắc khi triển khai Nghị định 46/2026/NĐ-CP và Nghị quyết 66.13/NQ-CP về quản lý an toàn thực phẩm
Kính gửi: Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính
Đồng kính gửi: Phó Thủ tướng Lê Thành Long
Bộ trưởng Bộ Y tế
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường
Bộ trưởng Bộ Công Thương
Thực hiện chức năng đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cộng đồng doanh nghiệp, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) trân trọng báo cáo Thủ tướng Chính phủ và các Bộ, ngành liên quan về những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình triển khai Nghị định số 46/2026/NĐ-CP ngày 26/01/2026 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật An toàn thực phẩm (sau đây gọi là “Nghị định 46”) và Nghị quyết số 66.13/2026/NQ-CP ngày 27/01/2026 của Chính phủ quy định về công bố, đăng ký sản phẩm thực phẩm (sau đây gọi là “Nghị quyết 66.13”).
Nội dung báo cáo này được tổng hợp từ: (i) ý kiến của hơn 200 đại biểu tham dự trực tiếp và trên 1.000 đại biểu tham dự trực tuyến tại Hội thảo “Tháo gỡ vướng mắc trong thực hiện chính sách pháp luật mới về an toàn thực phẩm” do VCCI tổ chức ngày 06/02/2026; (ii) rất nhiều văn bản kiến nghị trực tiếp của các hiệp hội ngành hàng như Hiệp hội Sữa Việt Nam, Hiệp hội Bia – Rượu – Nước giải khát Việt Nam, Hiệp hội các nhà bán lẻ Việt Nam, Hiệp hội Thực phẩm Minh Bạch, Hiệp hội Doanh nghiệp Anh Quốc tại Việt Nam (BritCham), Hiệp hội Thương mại Hoa Kỳ (AmCham), Hiệp hội Doanh nghiệp Châu Âu (EuroCham), Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), Hiệp hội Chè Việt Nam và nhiều hiệp hội, doanh nghiệp khác; và (iii) phản ánh trực tiếp của các tập đoàn, doanh nghiệp sản xuất, chế biến và kinh doanh thực phẩm lớn tại Việt Nam.
I. ĐÁNH GIÁ CHUNG
Cộng đồng doanh nghiệp ghi nhận và đánh giá cao chủ trương của Chính phủ trong việc hoàn thiện khung pháp lý về an toàn thực phẩm, nhằm bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng, nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm là nhiệm vụ quan trọng, cần được tăng cường và nâng cao hiệu lực, hiệu quả. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu đó, chính sách cần được xây dựng theo hướng quản lý rủi ro, tập trung vào các khâu có nguy cơ cao, tăng cường hậu kiểm thực chất, đồng thời bảo đảm tính khả thi và không gây đứt gãy chuỗi cung ứng. Quản lý chặt chẽ nhưng thông minh, bảo đảm an toàn thực phẩm nhưng vẫn tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp, chính là phương châm cần được thể hiện nhất quán trong các văn bản quy phạm pháp luật.
Cộng đồng doanh nghiệp đánh giá cao quyết định kịp thời của Chính phủ trong việc ban hành Nghị quyết số 09/2026/NQ-CP về việc tạm ngưng hiệu lực thi hành một số quy định của Nghị định 46 và Nghị quyết 66.13 đến hết ngày 15/4/2026. Đây là hành động thể hiện tinh thần cầu thị, lắng nghe và đồng hành cùng doanh nghiệp, góp phần tháo gỡ ách tắc cấp bách tại các cửa khẩu, cảng biển, bảo đảm chuỗi cung ứng không bị gián đoạn. Tuy nhiên, thời hạn tạm ngưng đang đến gần và cộng đồng doanh nghiệp rất lo ngại rằng nếu các vướng mắc cốt lõi không được giải quyết trước ngày 15/4/2026, những hậu quả nghiêm trọng đối với sản xuất, kinh doanh sẽ tái diễn.
Đặc biệt, cộng đồng doanh nghiệp lưu ý rằng Nghị định 46 và Nghị quyết 66.13 được ban hành và có hiệu lực ngay trong bối cảnh Luật An toàn thực phẩm đang trong quá trình sửa đổi. Việc áp dụng các quy định này trong thời gian ngắn, sau đó lại phải thay thế bằng văn bản mới hướng dẫn thi hành Luật An toàn thực phẩm sửa đổi, sẽ tạo ra bất ổn pháp lý, chi phí tuân thủ lớn và xáo trộn môi trường sản xuất, kinh doanh. Do đó, đa số ý kiến tại Hội thảo và trong các văn bản kiến nghị đều đề xuất kéo dài thời gian tạm ngưng hiệu lực của Nghị định 46 và Nghị quyết 66.13 cho đến khi Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) được Quốc hội thông qua và có hiệu lực, đồng thời tiếp tục áp dụng Nghị định số 15/2018/NĐ-CP trong giai đoạn chuyển tiếp.
II. CÁC KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC CHỦ YẾU
1. Vướng mắc về thủ tục công bố và đăng ký sản phẩm
Nghị định 46 quy định toàn bộ sản phẩm thực phẩm, bao gồm cả nguyên liệu, phụ gia, chất hỗ trợ chế biến, bao bì và dụng cụ tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm, đều phải thực hiện thủ tục đăng ký công bố hợp quy hoặc công bố tiêu chuẩn áp dụng hoặc đăng ký bản công bố sản phẩm trước khi lưu thông trên thị trường hoặc được sử dụng trong sản xuất. Quy định này đã loại bỏ các trường hợp miễn thủ tục vốn được quy định tại Nghị định 15/2018/NĐ-CP đối với nguyên liệu, bao bì chỉ dùng để sản xuất nội bộ và không tiêu thụ trực tiếp trên thị trường, tạo ra hàng loạt bất cập nghiêm trọng.
Thứ nhất, doanh nghiệp sản xuất thực phẩm đang phải đối mặt với tình trạng phải thực hiện đồng thời hai thủ tục công bố đối với cùng một sản phẩm: vừa đăng ký công bố hợp quy cho bao bì, vừa đăng ký công bố cho chính sản phẩm chứa đựng trong bao bì đó. Đây là quy định chồng chéo, không cần thiết, bởi doanh nghiệp sản xuất đã chịu toàn bộ trách nhiệm pháp lý đối với thành phẩm cuối cùng đưa ra thị trường.
Thứ hai, hồ sơ đăng ký bản công bố hợp quy theo Nghị định 46 yêu cầu phải có kết quả chứng nhận hợp quy của tổ chức chứng nhận được công nhận theo quy định của pháp luật về quy chuẩn kỹ thuật. Tuy nhiên, tính đến thời điểm Nghị định có hiệu lực, chưa có tổ chức chứng nhận hợp quy nào được công nhận để thực hiện chứng nhận cho nhóm thực phẩm, khiến doanh nghiệp không thể hoàn thiện hồ sơ dù có thiện chí tuân thủ.
Thứ ba, hồ sơ đăng ký bản công bố hợp quy yêu cầu phải có giấy ủy quyền trực tiếp từ nhà sản xuất nước ngoài. Trên thực tế, phần lớn hoạt động nhập khẩu thực phẩm và nguyên liệu tại Việt Nam được thực hiện qua hệ thống phân phối toàn cầu hoặc qua các đơn vị thương mại trung gian, không mua trực tiếp từ nhà sản xuất. Các nhà sản xuất nước ngoài, đặc biệt tại Nhật Bản, châu Âu và Hoa Kỳ, không có thông lệ cấp giấy ủy quyền theo hình thức yêu cầu của Nghị định 46 và không chấp nhận chịu trách nhiệm pháp lý theo pháp luật Việt Nam. Ước tính có tới 90% sản phẩm thực phẩm nhập khẩu đang lưu hành trên thị trường sẽ không thể đáp ứng yêu cầu này nếu quy định được áp dụng đầy đủ.
Thứ tư, Mẫu số 01 – Bản công bố hợp quy yêu cầu kê khai số Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm. Trong khi đó, theo quy định trước đây tại Nghị định 15/2018/NĐ-CP, các cơ sở đã được cấp chứng nhận quốc tế như FSSC 22000, HACCP, ISO 22000, BRC, IFS được miễn xin Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm. Việc Nghị định 46 bãi bỏ cơ chế miễn này mà không có quy định chuyển tiếp phù hợp đã đẩy các doanh nghiệp đang nắm giữ các chứng nhận quốc tế uy tín vào tình trạng không thể hoàn thiện hồ sơ công bố.
Thứ năm, điều khoản chuyển tiếp tại Điều 54 Nghị định 46 chỉ áp dụng đối với sản phẩm đã tự công bố trước ngày Nghị định có hiệu lực. Đối với các nguyên liệu, phụ gia thực phẩm, bao bì trước đây được miễn thủ tục tự công bố theo Điều 4 Nghị định 15/2018/NĐ-CP, không có hồ sơ tự công bố, nên không được hưởng cơ chế chuyển tiếp, dẫn đến tình trạng không thể thông quan hàng hóa nhập khẩu và không thể sử dụng nguyên liệu trong nước cho sản xuất.
2. Vướng mắc về kiểm tra nhà nước đối với thực phẩm nhập khẩu
Nghị định 46 đã thay đổi căn bản cơ chế kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm đối với hàng hóa nhập khẩu, dẫn đến hàng loạt ách tắc nghiêm trọng tại các cửa khẩu và cảng biển ngay từ những ngày đầu thực thi.
Thứ nhất, Nghị định 46 đã bãi bỏ quy định miễn kiểm tra nhà nước đối với nguyên liệu, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến và bao bì nhập khẩu chỉ dùng để sản xuất nội bộ, không tiêu thụ tại thị trường trong nước, một quy định được đánh giá là hợp lý và thực tiễn trong suốt 8 năm áp dụng Nghị định 15/2018/NĐ-CP. Hệ quả là toàn bộ các lô nguyên vật liệu nhập khẩu phục vụ sản xuất, bao gồm cả đường mía, lá trà, hương liệu, bao bì, nắp chai, khí CO2… đều bị ách tắc tại cửa khẩu, gây thiệt hại rất lớn cho doanh nghiệp, đặc biệt trong bối cảnh cao điểm sản xuất dịp Tết Nguyên đán.
Thứ hai, Nghị định 46 chuyển thẩm quyền kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm đối với thực phẩm nhập khẩu từ các cơ quan chuyên ngành Trung ương về cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo phân cấp, trong khi các tỉnh, thành phố chưa được chuẩn bị về tổ chức, nhân lực, quy trình và cơ sở vật chất để tiếp nhận nhiệm vụ mới này. Ngay sau khi Nghị định có hiệu lực, các cơ quan chuyên ngành tại địa phương như Sở Y tế, Sở Nông nghiệp và Môi trường đều ngừng tiếp nhận hồ sơ do chưa có hướng dẫn thực hiện, khiến hàng hóa ùn tắc kéo dài.
Thứ ba, quy trình kiểm tra nhà nước đối với thực phẩm nhập khẩu theo Nghị định 46 được mở rộng từ một bước thành ba bước: (i) cơ quan có thẩm quyền cấp tỉnh quyết định phương thức kiểm tra và lấy mẫu; (ii) chuyển mẫu cho cơ sở kiểm nghiệm được chỉ định; (iii) kết quả kiểm nghiệm được gửi về cơ quan cấp tỉnh để cấp giấy xác nhận đạt yêu cầu nhập khẩu. Thời gian kiểm tra thông thường là 10 ngày làm việc và kiểm tra chặt là 12 ngày làm việc, chưa bao gồm thời gian kiểm nghiệm, dẫn đến tổng thời gian thông quan thực tế có thể kéo dài hàng tháng. Điều này phát sinh chi phí lưu kho, lưu bãi rất lớn và gây hư hỏng đặc biệt đối với nguyên liệu tươi sống.
Thứ tư, hồ sơ kiểm tra nhà nước đối với thực phẩm nhập khẩu yêu cầu phải có bản tiêu chuẩn sản phẩm và giấy chứng nhận đáp ứng các quy định về an toàn thực phẩm do cơ quan có thẩm quyền của nước xuất khẩu cấp. Trên thực tế, không phải tất cả quốc gia xuất khẩu đều cấp loại giấy chứng nhận theo mẫu và hình thức tương ứng, đặc biệt đối với các sản phẩm thông thường như đường mía, đường ngô, nước ép cam cô đặc, lá trà đã qua sơ chế. Đối với phụ gia thực phẩm nhập khẩu theo lô lớn, không tồn tại “bản tiêu chuẩn sản phẩm” ở cấp độ thành phẩm như cách hiểu thông thường, mà chỉ có tiêu chuẩn kỹ thuật hoặc thông số kỹ thuật của nhà sản xuất.
Thứ năm, chưa có hướng dẫn rõ ràng về việc phân định thẩm quyền kiểm tra giữa Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với các mặt hàng trước đây thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Y tế và Bộ Công Thương. Cơ quan kiểm tra tại địa phương không tiếp nhận hồ sơ và không biết chỉ tiêu chất lượng nào cần chỉ định để kiểm nghiệm, dẫn đến tình trạng hàng hóa không thể thông quan dù doanh nghiệp đã nộp đủ hồ sơ theo quy định.
3. Vướng mắc về quy định chuyển tiếp và ghi nhãn hàng hóa
Điều khoản chuyển tiếp tại Điều 98 Nghị định số 37/2026/NĐ-CP chỉ cho phép doanh nghiệp tiếp tục sử dụng nhãn hàng hóa, bao bì đã được sản xuất, in ấn, nhập khẩu và lưu thông trước ngày 26/01/2026 với điều kiện nội dung ghi nhãn phù hợp với Nghị định 43/2017/NĐ-CP và Nghị định 111/2021/NĐ-CP. Tuy nhiên, thủ tục thông báo thay đổi nội dung tự công bố theo Điều 4 Nghị định 15/2018/NĐ-CP đã hết hiệu lực và chưa có thủ tục thay thế tương ứng, trong khi các cơ quan có thẩm quyền đã ngừng tiếp nhận hồ sơ theo quy định cũ. Doanh nghiệp rơi vào tình thế không thể tiếp tục sử dụng nhãn hàng hóa cũ do thông tin chưa phù hợp, nhưng cũng không thể cập nhật thông tin do không có thủ tục hành chính để thực hiện. Đây là khoảng trống pháp lý nghiêm trọng, gây lãng phí nguồn lực khổng lồ.
Thứ hai, Điều 35 Nghị định 46 về điều khoản chuyển tiếp yêu cầu các sản phẩm đã được tự công bố hoặc đã được cấp giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố sản phẩm trước đây phải thực hiện lại thủ tục công bố theo quy định mới trong thời hạn nhất định. Theo phản ánh của doanh nghiệp, quy định này sẽ tạo ra khối lượng hồ sơ rất lớn trong thời gian ngắn, gây quá tải cho cả cơ quan quản lý và doanh nghiệp, đồng thời phát sinh chi phí đáng kể đối với các sản phẩm đang lưu hành ổn định, không có bất kỳ vấn đề về an toàn thực phẩm.
Thứ ba, mặc dù điều khoản chuyển tiếp cho phép tiếp tục sử dụng hồ sơ tự công bố trong thời hạn 12 tháng, nhưng khi doanh nghiệp nộp hồ sơ sửa đổi, bổ sung thông tin đối với các hồ sơ tự công bố đã nộp trước đây, cơ quan nhà nước từ chối tiếp nhận do quy trình xử lý theo Nghị định 15 đã hết hiệu lực và chưa có quy trình thay thế. Điều này khiến doanh nghiệp không thể cập nhật các thông tin bắt buộc như địa chỉ sản xuất, thông tin ghi nhãn dinh dưỡng theo quy định mới, dẫn đến nguy cơ vi phạm pháp luật do yếu tố khách quan.
4. Vướng mắc về quản lý thực phẩm bổ sung và định nghĩa kỹ thuật
Nghị quyết 66.13 quy định thực phẩm bổ sung chỉ chứa vitamin và khoáng chất, không công bố khuyến cáo về sức khỏe (Health Claims), được áp dụng thủ tục công bố tiêu chuẩn đơn giản hơn. Các loại thực phẩm bổ sung khác chứa axit amin, axit béo, enzym, probiotic, prebiotic và “chất có hoạt tính sinh học khác” phải thực hiện thủ tục đăng ký bản công bố sản phẩm phức tạp hơn, với thời gian xử lý từ 3 đến 6 tháng.
Tuy nhiên, khái niệm “chất có hoạt tính sinh học” chưa được định nghĩa rõ ràng trong bất kỳ văn bản quy phạm pháp luật nào. Điều này dẫn đến nguy cơ mở rộng phạm vi áp dụng một cách tùy tiện đối với rất nhiều sản phẩm thông dụng có thành phần tự nhiên như caffein trong cà phê, trà; chất điện giải; chiết xuất yến sào; nhân sâm với hàm lượng thấp… Đây đều là các sản phẩm có lịch sử sử dụng an toàn lâu đời, nhưng có thể bị buộc quay lại cơ chế tiền kiểm phức tạp, gây chậm trễ trong việc đưa sản phẩm ra thị trường từ 3 đến 6 tháng.
Tương tự, khái niệm “công bố khuyến cáo về sức khỏe” (Health Claims) hiện chỉ được định nghĩa trong TCVN 14429:2025, là tiêu chuẩn có tính khuyến khích áp dụng, không bắt buộc, nên doanh nghiệp không có cơ sở pháp lý để áp dụng thống nhất. Việc thiếu định nghĩa pháp lý rõ ràng về hai khái niệm cốt lõi này có thể dẫn đến cách hiểu và áp dụng khác nhau giữa các cơ quan quản lý và giữa các địa phương, tạo ra rủi ro pháp lý lớn cho doanh nghiệp.
5. Vướng mắc về đăng ký nội dung quảng cáo thực phẩm bổ sung
Theo Điều 33 Nghị định 46, thực phẩm bổ sung có công bố khuyến cáo về sức khỏe phải thực hiện thủ tục đăng ký nội dung quảng cáo trước khi quảng cáo, trong khi quy định trước đây tại Nghị định 15/2018/NĐ-CP không yêu cầu điều này. Đặc biệt, Nghị định 46 không quy định thời gian chuyển tiếp cho nội dung này, có nghĩa là yêu cầu đăng ký quảng cáo có hiệu lực ngay lập tức.
Để đăng ký nội dung quảng cáo, doanh nghiệp bắt buộc phải có bản sao Giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố sản phẩm theo quy định mới. Tuy nhiên, do các vướng mắc trong thủ tục công bố sản phẩm như đã nêu tại mục 1, doanh nghiệp chưa thể hoàn thành thủ tục công bố, dẫn đến không thể đăng ký nội dung quảng cáo, không thể triển khai các chiến dịch truyền thông và không thể tung sản phẩm mới ra thị trường theo kế hoạch đã cam kết với đối tác.
6. Vướng mắc về yêu cầu truy xuất nguồn gốc thực phẩm
Điều 43 Nghị định 46 quy định doanh nghiệp phải thường xuyên thiết lập, lưu trữ đầy đủ thông tin về sản phẩm, nguyên liệu, bán thành phẩm, cơ sở sản xuất, cơ sở cung cấp, phân phối và khách hàng dưới dạng cơ sở dữ liệu, đồng thời kết nối với hệ thống cơ sở dữ liệu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Phạm vi thông tin yêu cầu rất rộng, bao gồm cả hình ảnh sản phẩm, số sê-ri, thông tin chi tiết về khách hàng và thông tin nội bộ sản xuất.
Tuy nhiên, quy định này chưa có hướng dẫn cụ thể về tần suất cập nhật, thời hạn lưu trữ, định dạng dữ liệu và phạm vi thông tin cần xuất trình khi cơ quan quản lý yêu cầu. Đối với ngành thực phẩm, nơi chuỗi cung ứng bao gồm nhiều tầng phân phối và sản phẩm được sản xuất hàng loạt, một số yêu cầu thông tin vượt quá khả năng thực hiện thực tế, đặc biệt đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Bên cạnh đó, hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia để kết nối chưa được xây dựng và vận hành, khiến yêu cầu kết nối dữ liệu trở thành nghĩa vụ không thể thực hiện được.
7. Vướng mắc về năng lực hệ thống kiểm nghiệm
Nhiều quy định trong Nghị định 46 và Nghị quyết 66.13 đòi hỏi kết quả kiểm nghiệm từ các phòng kiểm nghiệm được chỉ định. Tuy nhiên, thực tế cho thấy hệ thống kiểm nghiệm thực phẩm tại Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu về năng lực, số lượng và phương pháp kiểm nghiệm. Các đơn vị kiểm nghiệm nhà nước như Quatest, Viện Y tế Công cộng chưa sẵn sàng về biểu mẫu theo Mẫu số 06 Nghị quyết 66.13, dẫn đến việc không thể cung cấp kết quả kiểm nghiệm cho doanh nghiệp, làm gián đoạn toàn bộ chuỗi thủ tục hành chính liên quan. Thời gian trả kết quả kiểm nghiệm tại một số đơn vị có thể kéo dài từ 40 đến 45 ngày, chưa kể tình trạng từ chối tiếp nhận mẫu do e ngại trách nhiệm pháp lý. Nếu triển khai đầy đủ Nghị định 46 từ ngày 15/4/2026, khối lượng kiểm nghiệm sẽ tăng đột biến, trong khi năng lực hệ thống hiện tại không thể đáp ứng, buộc nhiều doanh nghiệp phải gửi mẫu kiểm nghiệm ra nước ngoài với chi phí rất lớn.
8. Vướng mắc về thiếu ổn định pháp lý và quy trình xây dựng văn bản
Cộng đồng doanh nghiệp bày tỏ lo ngại về quy trình xây dựng và ban hành Nghị định 46. Từ dự thảo lần thứ 8 cho đến khi nghị định chính thức được ban hành, đã có những thay đổi quan trọng nhưng cộng đồng doanh nghiệp và các hiệp hội ngành hàng không được tiếp cận và nắm bắt kịp thời. Nghị định được xây dựng theo trình tự, thủ tục rút gọn và có hiệu lực ngay khi ký ban hành, không có thời gian chuyển tiếp, gây ra sự bất ngờ và xáo trộn rất lớn. Đây là bài học quan trọng về sự cần thiết phải có quá trình tham vấn đầy đủ, thực chất và thời gian chuyển tiếp hợp lý đối với các chính sách có tác động lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh.
III. ĐỊNH HƯỚNG QUẢN LÝ AN TOÀN THỰC PHẨM HIỆU QUẢ
VCCI và cộng đồng doanh nghiệp nhất quán quan điểm rằng tăng cường quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm là yêu cầu chính đáng và cần thiết. Bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng là mục tiêu tối thượng không thể thỏa hiệp. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu đó một cách thực chất và bền vững, chính sách quản lý an toàn thực phẩm cần được xây dựng và triển khai theo các định hướng sau:
Một là, quản lý theo rủi ro, tăng cường hậu kiểm thực chất. Chính sách cần tập trung nguồn lực vào các khâu, các nhóm sản phẩm có nguy cơ cao thực sự đối với sức khỏe người tiêu dùng, thay vì áp dụng đồng loạt các thủ tục tiền kiểm tốn kém đối với tất cả sản phẩm. Các doanh nghiệp có lịch sử tuân thủ tốt, đã đạt các chứng nhận quốc tế uy tín như HACCP, ISO 22000, FSSC 22000, BRC, IFS cần được công nhận và tạo điều kiện thông qua cơ chế kiểm tra giảm, kiểm tra sau thông quan. Hậu kiểm mạnh mẽ, xử lý nghiêm vi phạm và công khai thông tin là công cụ quản lý hiệu quả hơn so với tiền kiểm hình thức.
Hai là, quản lý theo hệ thống, không chỉ quản lý từng sản phẩm. Cần chuyển từ mô hình quản lý đăng ký, kiểm nghiệm từng sản phẩm sang quản lý toàn diện theo chuỗi giá trị thực phẩm, từ sản xuất đến tiêu dùng. Điều này đòi hỏi tăng cường áp dụng các tiêu chuẩn quản lý hệ thống quốc tế, công nhận tương đương các chứng nhận quốc tế còn hiệu lực, xây dựng cơ chế truy xuất nguồn gốc thực chất và cơ chế kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp.
Ba là, bảo đảm tính khả thi và nhất quán trong thực thi. Việc phân cấp quản lý cho địa phương cần đi kèm với bảo đảm đầy đủ nguồn nhân lực, chuyên môn, ngân sách và thời gian chuẩn bị, tránh tình trạng mỗi địa phương áp dụng và hiểu khác nhau, gây khó khăn cho doanh nghiệp hoạt động trên nhiều địa bàn.
Bốn là, thúc đẩy chuyển đổi số và liên thông dữ liệu. Cần đẩy mạnh số hóa, xây dựng hệ thống dữ liệu thống nhất giữa các cơ quan quản lý để nâng cao tính minh bạch, giảm thiểu thủ tục chồng chéo, đồng thời nâng cao hiệu quả kiểm tra, giám sát và truy xuất nguồn gốc thực phẩm. Các yêu cầu về kết nối dữ liệu cần được triển khai theo lộ trình phù hợp với năng lực thực tế của doanh nghiệp và hạ tầng công nghệ của cơ quan quản lý nhà nước.
Năm là, bảo đảm quá trình xây dựng chính sách minh bạch, có sự tham vấn đầy đủ. Các quy định có tác động lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh cần được đánh giá tác động toàn diện, lấy ý kiến rộng rãi từ đối tượng chịu tác động và có thời gian chuyển tiếp hợp lý trước khi có hiệu lực. Kinh nghiệm từ việc triển khai Nghị định 46 cho thấy, một chính sách dù có mục tiêu đúng đắn nhưng nếu thiếu tính khả thi và không có lộ trình thực hiện phù hợp, sẽ gây ra những hậu quả ngược chiều với mục tiêu đề ra.
IV. KIẾN NGHỊ
Trên cơ sở tổng hợp các khó khăn, vướng mắc nêu trên và định hướng quản lý an toàn thực phẩm hiệu quả, VCCI trân trọng kiến nghị Thủ tướng Chính phủ và các Bộ, ngành liên quan xem xét một số nội dung sau:
Thứ nhất, về định hướng chính sách dài hạn, VCCI kiến nghị Chính phủ xem xét kéo dài thời gian tạm ngưng hiệu lực của Nghị định 46 và Nghị quyết 66.13 cho đến khi Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) được Quốc hội thông qua và có hiệu lực, đồng thời tiếp tục áp dụng Nghị định số 15/2018/NĐ-CP làm cơ sở pháp lý trong giai đoạn chuyển tiếp. Nghị định 46 và Nghị quyết 66.13 sẽ được thay thế bằng văn bản quy định chi tiết hướng dẫn thi hành Luật An toàn thực phẩm mới, bảo đảm tính đồng bộ, nhất quán và hiệu quả. Đây là phương án được đa số doanh nghiệp và hiệp hội ngành hàng đồng thuận cao, phù hợp với thực tiễn và tránh tạo ra bất ổn pháp lý không cần thiết.
Thứ hai, về xử lý khẩn cấp các vướng mắc trước mắt, trong trường hợp Chính phủ quyết định tiếp tục áp dụng Nghị định 46 và Nghị quyết 66.13 sau ngày 15/4/2026, VCCI kiến nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành khẩn trương xử lý các nội dung cụ thể sau:
- Khôi phục cơ chế miễn thủ tục công bố và kiểm tra nhà nước đối với nguyên liệu, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến, bao bì và dụng cụ tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm chỉ dùng để sản xuất nội bộ, không tiêu thụ tại thị trường trong nước;
- Mở rộng điều khoản chuyển tiếp bao gồm cả các sản phẩm, nguyên liệu trước đây được miễn thủ tục tự công bố theo Nghị định 15/2018/NĐ-CP; cho phép tiếp tục thực hiện và sửa đổi, bổ sung hồ sơ tự công bố theo quy trình của Nghị định 15/2018/NĐ-CP trong thời gian chuyển tiếp;
- Công nhận giá trị tương đương của các chứng nhận quốc tế còn hiệu lực như FSSC 22000, HACCP, ISO 22000, BRC, IFS thay thế cho Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm; cho phép doanh nghiệp có chứng nhận quốc tế tiếp tục sử dụng cho đến khi hoàn tất thủ tục xin cấp giấy chứng nhận mới;
- Cho phép áp dụng cơ chế thông quan trước – kiểm tra sau đối với các lô hàng nhập khẩu của doanh nghiệp có lịch sử tuân thủ tốt; cho phép đưa hàng về kho doanh nghiệp hoặc kho ngoại quan để bảo quản trong thời gian chờ kết quả kiểm tra; quy định tổng thời gian kiểm tra bao gồm cả thời gian kiểm nghiệm để bảo đảm tính minh bạch và khả năng dự liệu cho doanh nghiệp;
- Sớm ban hành hướng dẫn thống nhất về thẩm quyền cơ quan kiểm tra nhà nước đối với từng nhóm thực phẩm nhập khẩu; ban hành danh mục các chứng từ được chấp nhận thay thế giấy chứng nhận an toàn thực phẩm đối với các sản phẩm thông thường mà nước xuất khẩu không cấp loại giấy tờ tương ứng;
- Bổ sung định nghĩa pháp lý rõ ràng về “chất có hoạt tính sinh học” và “công bố khuyến cáo về sức khỏe” (Health Claims) trong văn bản quy phạm pháp luật; quy định thời gian chuyển tiếp tối thiểu 6 tháng cho yêu cầu đăng ký nội dung quảng cáo đối với thực phẩm bổ sung;
- Cho phép tiếp tục sử dụng nhãn hàng hóa, bao bì đã in ấn và ban hành quy trình thủ tục hành chính để doanh nghiệp có thể sửa đổi, bổ sung nội dung hồ sơ tự công bố đã nộp theo Nghị định 15/2018/NĐ-CP trong thời gian chuyển tiếp, đặc biệt đối với các thay đổi phát sinh từ yếu tố khách quan như điều chỉnh địa giới hành chính;
- Rà soát và loại bỏ các yêu cầu hồ sơ không khả thi trong thực tế, đặc biệt là yêu cầu về giấy ủy quyền trực tiếp từ nhà sản xuất nước ngoài đối với hàng hóa nhập khẩu qua hệ thống phân phối toàn cầu; nghiên cứu cơ chế công nhận tương đương các chứng nhận quốc tế trong thủ tục công bố hợp quy, tương tự như cơ chế đã được quy định tại Điều 22 Nghị định 46 về kiểm tra nhà nước đối với thực phẩm nhập khẩu;
- Ban hành hướng dẫn chi tiết về truy xuất nguồn gốc thực phẩm, quy định rõ bộ dữ liệu tối thiểu bắt buộc, phân loại nghĩa vụ lưu trữ thông tin theo vai trò của từng chủ thể trong chuỗi cung ứng và mức độ rủi ro của sản phẩm, đồng thời áp dụng lộ trình triển khai và kết nối cơ sở dữ liệu theo từng giai đoạn.
Thứ ba, về tăng cường năng lực thực thi, VCCI kiến nghị Chính phủ chỉ đạo đánh giá toàn diện năng lực hệ thống kiểm nghiệm thực phẩm quốc gia trước khi triển khai đầy đủ các quy định của Nghị định 46; xem xét công nhận kết quả kiểm nghiệm của các phòng thí nghiệm nội bộ của doanh nghiệp đạt chuẩn hoặc của các tổ chức chứng nhận quốc tế uy tín; ban hành danh mục công khai các phòng kiểm nghiệm được chỉ định kèm theo phạm vi kiểm nghiệm cụ thể. Đồng thời, việc phân cấp quản lý cho địa phương cần đi kèm với bảo đảm đủ nguồn nhân lực, chuyên môn và hướng dẫn thực hiện thống nhất trước khi chính thức giao nhiệm vụ.
Thứ tư, về quy trình xây dựng chính sách, VCCI kiến nghị Chính phủ chỉ đạo thực hiện đánh giá tác động đầy đủ và toàn diện đối với sản xuất, kinh doanh và chuỗi cung ứng trước khi ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về an toàn thực phẩm; bảo đảm quá trình tham vấn thực chất với cộng đồng doanh nghiệp và các hiệp hội ngành hàng; quy định thời gian chuyển tiếp tối thiểu phù hợp để doanh nghiệp có thể chuẩn bị và thích ứng trước khi các quy định chính thức có hiệu lực. VCCI đề xuất thiết lập cơ chế tham vấn thường xuyên giữa các hiệp hội ngành hàng và cơ quan chủ trì soạn thảo chính sách trong giai đoạn từ nay đến khi Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) được ban hành và có hiệu lực.
Trên đây là tổng hợp các khó khăn, vướng mắc và kiến nghị của cộng đồng doanh nghiệp trong quá trình triển khai Nghị định số 46/2026/NĐ-CP và Nghị quyết số 66.13/2026/NQ-CP. Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam trân trọng kính mong Thủ tướng Chính phủ quan tâm xem xét, chỉ đạo các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu, tiếp thu và sớm ban hành các giải pháp điều chỉnh phù hợp, kịp thời tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, góp phần bảo đảm sự ổn định của chuỗi cung ứng thực phẩm, bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng và thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển bền vững.
Xin trân trọng cảm ơn./.
Website xây dựng pháp luật của VCCI