Góp ý Luật sửa đổi các Luật Thương mại, Cạnh tranh, Quản lý ngoại thương và Bảo vệ người tiêu dùng
Góp ý Báo cáo tổng kết thi hành Nghị định 17/2023/NĐ-CP Luật sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan
Góp ý Hồ sơ chính sách Luật Bưu chính (thay thế)
Kính gửi: Bộ Khoa học và Công nghệ
Trả lời Công văn số 7665/BKHCN-BC ngày 14/12/2025 của Bộ Khoa học và Công nghệ về việc đề nghị góp ý Hồ sơ chính sách Luật Bưu chính, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), trên cơ sở ý kiến của các doanh nghiệp, có ý kiến ban đầu như sau:
- Chính sách mở rộng phạm vi lĩnh vực bưu chính
Chính sách 1 Báo cáo đánh giá tác động chính sách (sau đây gọi tắt là Báo cáo Đánh giá chính sách) đề xuất sửa đổi các khái niệm về dịch vụ bưu chính, hạ tầng bưu chính để mở rộng không gian lĩnh vực bưu chính, trong đó: bổ sung các dịch vụ logistics chuyển phát nhanh hàng nhẹ, dịch vụ hoàn tất đơn hàng, dịch vụ thu hộ tiền hàng, cho phép áp dụng dịch vụ bưu chính với cả các đơn hàng trên khối lượng 31 kg. Đồng thời, Chính sách 3 cũng bổ sung quản lý với dịch vụ này như dịch vụ bưu chính thương mại.
Theo lý giải của cơ quan soạn thảo, lý do của việc đề xuất là do pháp luật bưu chính không đề cập đến các dịch vụ này, dẫn đến doanh nghiệp bưu chính bị hạn chế tham gia các phân khúc giá trị gia tăng cao trong chuỗi thương mại điện tử.[1] Đồng thời, tạo ra sự bất bình đẳng giữa các mô hình kinh doanh[2] khi các nền tảng số khi cùng vận chuyển đối tượng là “hàng hóa” lại không phải tuân thủ và thực hiện theo quy định pháp luật bưu chính hiện hành như đối với các doanh nghiệp bưu chính thông thường.
Tuy nhiên, đề xuất này chưa thật sự hợp lý ở các điểm sau:
Thứ nhất, việc mở rộng phạm vi như đề xuất có khả năng chồng chéo với dịch vụ logistics đã được điều chỉnh tại Luật Thương mại. Chẳng hạn, dịch vụ hoàn tất đơn hàng có thể hiểu là dịch vụ hậu cần, gồm lưu kho, nhận và xử lý đơn hàng, đóng gói, vận chuyển và xử lý hậu mãi. Định nghĩa này gần như trùng lặp với dịch vụ logistics trong Luật Thương mại là tổ hợp gồm một hoặc nhiều dịch vụ gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho,…, giao hàng hoặc các dịch vụ khác. Việc này có thể dẫn đến tình trạng doanh nghiệp phải đáp ứng điều kiện kinh doanh tại hai Luật khác nhau với cùng một hoạt động kinh doanh.
Thứ hai, lý do của việc đề xuất chưa hợp lý. Doanh nghiệp có quyền tự do hoạt động trong nhiều ngành nghề, lĩnh vực, miễn đáp ứng quy định tương ứng với từng ngành nghề. Việc Luật Bưu chính không quy định các dịch vụ trên không đồng nghĩa với việc doanh nghiệp có giấy phép bưu chính không được kinh doanh hay mở rộng hoạt động kinh doanh ra các hoạt động trên. Thực tế, nhiều doanh nghiệp bưu chính vẫn đang cung cấp cả các dịch vụ bưu chính và dịch vụ giao hàng, hoàn tất đơn hàng.
Đương nhiên, như vậy cũng không có nghĩa là các doanh nghiệp bưu chính đang chịu sự bất bình đẳng vì ngay từ đầu các hoạt động này không hạn chế các doanh nghiệp bưu chính cũng như các doanh nghiệp khác tham gia thị trường.
Do vậy,để tránh chồng chéo pháp lý, đề nghị cơ quan soạn thảo cân nhắc lại việc bổ sung các dịch vụ trên vào phạm vi điều chỉnh của Luật và các chính sách điều chỉnh đi kèm.
- Chính sách ưu đãi cho doanh nghiệp bưu chính công ích chỉ định
Chính sách 2 Báo cáo Đánh giá chính sách dự kiến bổ sung nhiều chính sách ưu đãi dành cho doanh nghiệp công ích chỉ định. Cụ thể:
– Sử dụng Quỹ Bưu chính công ích, có nguồn thu từ doanh thu của các doanh nghiệp bưu chính thương mại trên thị trường;
– Hỗ trợ cơ sở hạ tầng nhằm thiết lập mạng bưu chính công cộng như trưng dụng khu đô thị, khu dân cư tập trung, chung cư cao tầng, tòa nhà văn phòng để làm mạng bưu chính công cộng; sử dụng mạng bưu chính công cộng cho hoạt động kinh doanh thông thường.
Tuy nhiên, chính sách này cần cân nhắc lại giữa khả năng đảm bảo lợi ích công và tính cạnh tranh trên thị trường, cụ thể:
Thứ nhất, Báo cáo chưa làm rõ cụ thể lợi ích công mà Nhà nước hỗ trợ. Về lý thuyết, Nhà nước chỉ nên can thiệp, hỗ trợ trong trường hợp dịch vụ đó không mang lợi nhuận và thị trường không muốn cung cấp dịch vụ đó.
Theo giải trình từ cơ quan soạn thảo, việc này nhằm đảm bảo mạng bưu chính công cộng thể hiện rõ vai trò hạ tầng thiết yếu quốc gia, thúc đẩy phát triển thương mại điện tử thông qua mạng bưu chính công cộng quốc gia để đảm bảo mọi người dân trên toàn quốc có thể tiếp cận, thuận tiện trong việc mua bán hàng hoá thương mại điện tử.[3] Như vậy, có thể hiểu là Nhà nước đang muốn hỗ trợ phát triển thương mại điện tử thông qua mạng bưu chính công cộng quốc gia.
Tuy nhiên, thị trường thương mại điện tử nói chung và thị trường vận chuyển hàng hoá thương mại điện tử là ngành kinh doanh mang tính thương mại, không phải dịch vụ công thiết yếu. Hiện nay, thị trường vẫn đang phát triển mạnh mẽ với tốc độ tăng trưởng hai con số. Do đó, chưa rõ lý do Nhà nước cần phải hỗ trợ thị trường này thông qua mạng bưu chính công cộng.
Thứ hai, chính sách này tạo ra lợi thế cho doanh nghiệp chỉ định so với các doanh nghiệp khác trên thị trường kinh doanh có sự tham gia nhiều doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế. Một mặt, doanh nghiệp bưu chính công ích được nhà nước hỗ trợ bằng nguồn ngân sách nhà nước thông qua hoạt động đầu xây dựng mạng bưu chính công cộng. Mặt khác, doanh nghiệp chỉ định lại được nhà nước bù đắp chi phí, mặt khác được sử dụng mạng bưu chính công công cho mục đích thương mại tìm kiếm lợi nhuận, và được hỗ trợ bởi Quỹ Dịch vụ bưu chính công ích được hình thành từ khoản đóng góp bắt buộc của các đối thủ cạnh tranh trên thị trường. Quy định nêu trên được ban hành sẽ tạo ra ưu thế cho doanh nghiệp chỉ định, làm ảnh hưởng đến môi trường cạnh tranh công bằng, lành mạnh giữa các thành phần kinh tế. Đồng thời, chính sách này không phù hợp với Nghị quyết 68-NQ/TW năm 2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, cụ thể là không phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau.
Điều này chưa kể đến, chính sách này còn bao gồm việc bổ sung các quy định, tiêu chuẩn cho các trung tâm trung chuyển, các kho vật lý và kho ảo phục vụ hoàn tất đơn hàng của đơn vị bưu chính. Việc này sẽ tạo rào cản cho các doanh nghiệp nhỏ, các doanh nghiệp mới tham gia thị trường, làm giảm tính cạnh tranh trên thị trường. Đồng thời, tiêu chuẩn dự kiến như vị trí nằm trong hành lang kết nối, mạng lưới giao hàng đô thị là không phù hợp vì can thiệp vào quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp và không nhằm giải quyết lợi ích công nào[4].
Trên cơ sở đó, đề nghị cơ quan soạn thảo: (1) Xác định rõ các vấn đề về bưu chính công ích mà thị trường không giải quyết được, cần Nhà nước can thiệp, hỗ trợ; (2) Xác định lại các loại hỗ trợ, ưu đãi cho dịch vụ công ích, đảm bảo bù đắp chi phí cho doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ công ích; (3) Không bổ sung các quy định mang tính phân biệt đối xử, tạo lợi thế thị trường cho doanh nghiệp nhất định nào.
- Định danh người gửi, người nhận
Chính sách 4 BCĐGTĐ bổ sung quy định về việc định danh khách hàng là người gửi, người nhận. Mục tiêu của chính sách là nhằm đảm bảo an ninh, an toàn trong hoạt động bưu chính thông qua xác định cụ thể khách hàng sử dụng dịch vụ.
Tuy nhiên, theo phản ánh của doanh nghiệp, quy định này cần cân bằng giữa mục tiêu chính sách và chi phí cũng như tính khả thi trong thực tế. Dù Báo cáo chưa lượng hoá chi phí, có thể tạm tính dựa trên các số liệu như sau: (1) Tổng sản lượng bưu gửi của toàn ngành bưu chính: 4,2 tỉ bưu gửi (năm 2025) [5]; (2) Thời gian kiểm tra, định danh với mỗi đơn hàng với người gửi và người nhận tốn trung bình 1 phút/lần, tức 2 phút với cả hai chiều. Như vậy, trung bình toàn ngành bưu chính sẽ tốn 8.4 tỉ phút, tương đương 17.4 triệu ngày công lao động (coi một ngày làm việc 8 giờ). Nếu áp dụng ngày công theo mức lương tối thiểu vùng 4 (mức thấp nhất) là 142.000 VND, thì chi phí cho toàn ngành bưu chính dự kiến cũng lên tới 2.400 tỉ mỗi năm. Như vậy, việc định danh và kiểm tra căn cước công dân của người nhận làm phát sinh thêm thủ tục, chi phí giao/nhận với người nhận trong bối cảnh các lợi ích chung chưa thực sự rõ ràng.
Ngoài ra, quy định này còn không khả thi trong nhiều trường hợp, cụ thể:
– Không khả thi trong bối cảnh áp dụng tiện ích công nghệ bưu cục không có người phục vụ, gửi hàng qua máy bay không người lái (drone), cũng như các tiện ích tạo thuận lợi tối đa cho khách hàng sử dụng dịch vụ.
– Không khả thi trong trường hợp áp dụng với khách hàng doanh nghiệp. Các khách hàng doanh nghiệp có người gửi/người nhận khác nhau theo ca, kíp/giờ làm việc cũng như quy trình giao nhận dành riêng (có kết nối hạ tầng, API) đảm bảo yêu cầu dịch vụ/vận hành dành riêng.
Do vậy, đề nghị cơ quan soạn thảo cân nhắc lại chính sách này, theo hướng giới hạn phạm vi cần tiến hành kiểm tra căn cước và thực hiện định danh khách hàng.
- Mối quan hệ giữa hoạt động bưu chính và hoạt động kinh doanh vận tải
Theo phản ánh của doanh nghiệp, hiện nay, vẫn chưa có sự phân định rõ ràng giữa hoạt động bưu chính (hoạt động vận chuyển của xe bưu chính) và hoạt động kinh doanh vận tải hàng hoá. Cụ thể, hiện nay, các hoạt động bưu chính vẫn được xem là hoạt động vận tải hàng hoá. Các doanh nghiệp bưu chính bắt buộc phải có giấy phép kinh doanh vận tải hàng hóa để được cấp phù hiệu vận tải nhằm phục vụ cho hoạt động bưu chính. Cách hiểu này vẫn được áp dụng cho đến thời điểm hiện tại, và gây ra rất nhiều khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn hoạt động cho doanh nghiệp bưu chính, đặc biệt là liên quan đến sở hữu xe tải và xin cấp phù hiệu để phương tiện bưu chính được lưu thông trên đường. Do vậy, đề nghị cơ quan soạn thảo bổ sung quy định phân định rõ giữa hai hoạt động này, theo hướng hoạt động vận chuyển của các doanh nghiệp bưu chính không phải là hoạt động kinh doanh vận tải.
Trên đây là một số ý kiến ban đầu của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam về Hồ sơ chính sách Luật Bưu chính. Rất mong cơ quan soạn thảo cân nhắc để chỉnh sửa, hoàn thiện Dự thảo này.
Trân trọng cảm ơn sự hợp tác của Quý Cơ quan./.
[1] Chính sách 1, trang 8 Báo cáo Đánh giá chính sách
[2] Chính sách 3, trang 20 Báo cáo Đánh giá chính sách
[3] Chính sách 2, trang 17 Báo cáo Đánh giá chính sách
[4] Ngành, nghề kinh doanh có điều kiện cần đáp ứng điều kiện vì các lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khoẻ cộng đồng, theo Điều 7 Luật Đầu tư 2025
[5] https://mst.gov.vn/so-lieu-noi-bat-linh-vuc-buu-chinh-vien-thong-197260106120829422.htm
Website xây dựng pháp luật của VCCI