Theo dõi (0)

DỰ THẢO LUẬT VỀ HỘI (DỰ THẢO DO LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT VIỆT NAM SOẠN THẢO)

Ngày đăng: 00:55 11-04-2006 | 2103 lượt xem

Cơ quan chịu trách nhiệm soạn thảo

Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam

Trạng thái

Đã xong

Đối tượng chịu tác động

N/A,

Phạm vi điều chỉnh

Tóm lược dự thảo

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 10.

Chương I. Những nguyên tắc chung

Điều 1. Quyền lập hội

  1. Luật này bao gồm các quy định đảm bảo quyền tự do lập hội của nhân dân đ ư ợc quy định tại Điều 69 Hiến pháp n ư ớc CHXHCN Việt Nam.
  2. Nhân dân có quyền tự do lập hội d ư ới những hình thức tổ chức và tên gọi khác nhau có đăng ký hoặc không đăng ký với c ơ quan Nhà n ư ớc có thẩm quyền.

Điều 2. Cơ sở thực hiện quyền lập Hội

Nhân dân thực hiện quyền tự do lập Hội trên c ơ sở:

  1. Tự nguyện.
  2. Bình đẳng, minh bạch, dân chủ.
  3. Tự quản
  4. Tự chủ về tài chính.
  5. Hoạt động không vì mục đích lợi nhuận.
  6. Phù hợp với lợi ích nhóm cộng đồng xã hội và Nhà n ư ớc.

Điều 3. Nguyên tắc quản lý Nhà nước đối với Hội

  1. Nhà n ư ớc quản lý hoạt động của Hội trên c ơ sở bảo đảm quyền lập hội của nhân dân đã đ ư ợc Hiến pháp công nhận.
  2. Nhà n ư ớc tạo mọi điều kiện thuận lợi cho Hội tham gia vào các hoạt động xã hội, các ch ươ ng trình, đề án, dự án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội.

Điều 4. Đối tượng điều chỉnh của Luật

Luật này điều chỉnh mối quan hệ giữa Nhà nước và Hội trong việc thành lập, tổ chức và hoạt động của Hội.

Điều 5. Đối tượng áp dụng của Luật

1. Luật này áp dụng đối với:

a)         Công dân, tổ chức Việt Nam.

b)         Người Việt Nam mang quốc tịch nước ngoài cư trú, hoạt động hợp pháp tại Việt Nam.

c)         Cá nhân, tổ chức nước ngoài đang cư trú và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam.

2. Luật này không áp dụng đối với những tổ chức mà pháp luật có những quy định riêng.

Điều 6. Định nghĩa, phân loại Hội

  1. Hội là một tổ chức liên kết tự nguyện của nhân dân với sự tham gia của ít nhất là 3 cá nhân hoặc tổ chức, hoạt động thường xuyên, không vì mục đích lợi nhuận, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Hội và hội viên.
  2. Hội có đăng ký thành lập theo Luật này là pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng, được thực hiện các giao dịch trong các lĩnh vực dân sự, kinh tế, lao động, hành chính, phát triển theo pháp luật hiện hành.
  3. Hội không có đăng ký thành lập theo Luật này thì không có tư cách pháp nhân, không có con dấu riêng. Người đứng đầu Hội không có đăng ký thành lập không thể nhân danh tổ chức Hội để tiến hành các giao dịch pháp lý.

Điều 7. Liên hiệp Hội

  1. Liên hiệp Hội là một tổ chức, liên kết theo nguyên tắc tự nguyện của nhiều tổ chức hội cùng theo đuổi mục đích chung với quy mô tổ chức và hoạt động trên địa bàn một tỉnh, liên tỉnh hoặc toàn quốc.
  2. Các hội thành viên trong Liên hiệp hội giữ tư cách pháp nhân riêng, tự chịu trách nhiệm trước pháp luật, hoạt động theo Điều lệ của hội mình, phù hợp với Điều lệ Liên hiệp hội, chịu sự chỉ đạo của Ban chấp hành Liên hiệp hội.
  3. Liên hiệp hội có tên gọi khác nhau, Liên hiệp hội, Hội liên hiệp, Liên minh các hội, Tổng hội, Hiệp hội, Liên đoàn, v.v..

Điều 12. Nội dung chính của Điều lệ Hội

Điều lệ Hội phải bao gồm những nội dung chính như sau:

  1. Tên gọi của Hội và biểu tượng (nếu có)
  2. Địa chỉ trụ sở chỉnh của Hội
  3. Tôn chỉ mục đích, nhiệm vụ và lĩnh vực hoạt động của Hội
  4. Cơ cấu tổ chức của Hội
  5. Thể thức bầu và miễn nhiệm người đứng đầu Hội, các cơ quan quản lý của Hội (nếu có)
  6. Thủ tục gia nhập, rút khỏi Hội
  7. Quy chế quản lý tài sản, tài chính của Hội, sử dụng hội phí của Hội viên
  8. Phương thức xử lý tài sản, tài chính trong các trường hợp tách, nhập hoặc giải thể Hội.
  9. Phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh giữa các thành viên trong Hội
  10. Phương thức sửa đổi, bổ sung Điều lệ.
  11. Điều khoản thi hành

Điều 13. Đăng ký thành lập Hội

  1. Khi nhận đủ hồ sơ đăng ký thành lập Hội, cơ quan nhà nước có thẩm quyền được phân cấp theo quy định tại Điều 46 của Luật này cấp giấy biên nhận hồ sơ.
  2. Trong thời hạn không quá 45 ngày kể từ ngày cấp giấy biên nhận, cơ quan có thẩm quyền được phân cấp theo quy định tại Điều 46 của Luật này cấp giấy chứng nhận đăng ký thành lập Hội.
  3. Sau 45 ngày kể từ khi nhận giấy biên nhận hồ sơ, nếu không nhận được phúc đáp về đề nghị đăng ký thành lập Hội, Ban vận động thành lập Hội được quyền tiến hành Đại hội thành lập Hội. Sau khi nộp báo cáo về kết quả thành lập Hội theo quy định của Điều 15 của Luật này, cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 46 có trách nhiệm cấp giấy chứng nhận đăng ký thành lập Hội và đưa Hội vào Danh bạ đăng ký các Hội.
  4. Khi từ chối không cấp giấy chứng nhận đăng ký thành lập Hội, cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 46 của Luật này phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do từ chối.
  5. Người đứng đầu Ban vận động thành lập Hội có quyền khởi kiện cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 46 của Luật này về việc từ chối không cho đăng ký thành lập Hội trước Tòa Hành chính.

Điều 14. Đại hội thành lập Hội

Ban vận động thành lập Hội tiến hành Đại hội thành lập Hội với những nội dung chủ yếu như sau:

a)       Công bố giấy chứng nhận đăng ký thành lập Hội, trừ trường hợp quy định tại mục 3) Điều 13 của Luật này.

b)       Thảo luận và biểu quyết thông qua Điều lệ Hội.

c)       Bầu Ban lãnh đạo Hội.

d)       Bầu hoặc phê duyệt thành phần của các cơ quan quản lý của Hội.

e)       Thông qua các Nghị quyết của Đại hội.

Điều 15. Báo cáo về việc thành lập Hội

Sau 30 ngày kể từ ngày tổ chức Đại hội thành lập Hội, người đứng đầu Hội gửi các văn bản sau đây đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền được phân cấp theo quy định tại Điều 46 của Luật này.

a) Báo cáo kết quả Đại hội thành lập Hội

b) Danh sách Người đứng đầu Hội và các thành viên Ban lãnh đạo Hội

c) Điều lệ chính thức đã được Đại hội thông qua

d) Các Nghị quyết của Đại hội

Điều 16. Điều lệ Hội

  1. Điều lệ Hội, sau khi được thông qua tại Đại hội là văn kiện pháp lý cơ bản đối với tổ chức và hoạt động của Hội
  2. Trường hợp thấy Điều lệ Hội có những quy định trái pháp luật, cơ quan có thẩm quyền nói ở Điều 6 có quyền không công nhận Điều lệ Hội nhưng phải nói rõ lý do bằng văn bản chính thức trong thời hạn nói ở Điều này.
  3. Nếu không đồng ý với cơ quan có thẩm quyền về việc không công nhận Điều lệ Hội, Ban lãnh đạo Hội có quyền kiện ra trước Tòa Hành chính.

Điều 17. Việc thành lập Hội của cá nhân và tổ chức nước ngoài tại Việt Nam

  1. Cá nhân và tổ chức nước ngoài cư trú và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam từ 2 năm trở lên được phép thành lập Hội.
  2. Doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài hoạt động hợp pháp tại Việt Nam được phép thành lập Hội

Điều 18. Việc thành lập Hội của cá nhân, tổ chức, người Việt Nam ở nước ngoài hiện đang sinh sống và làm việc tại Việt Nam.

Người Việt Nam ở nước ngoài, kể cả những người mang quốc tịch nước ngoài, có thời gian cư trú và hoạt động tại Việt Nam từ 1 năm trở lên, thì được phép thành lập Hội

Điều 19. Thủ tục thành lập Hội của các chủ thể quy định tại Điều 17, 18 của Luật này

Chính phủ quy định cụ thể về thủ tục thành lập Hoọi áp dụng đối với các chủ thể nêu tại Điều 17, 18 của Luật này theo hướng tạo điều kiện thuận lợi và phù hợp xu thế và thực tiễn quốc tế.

Điều 20. Danh bạ đăng ký các Hội

  1. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 45 của Luật này có trách nhiệm xây dựng và cập nhật Danh bạ đăng ký các tổ chức Hội.
  2. Thông tin về Hội được đưa vào Danh bạ đăng ký các Hội phải bao gồm những nội dung chủ yếu, như tên gọi của Hội, địa chỉ trụ sở chính, chi nhánh, tên và địa chỉ của người đứng đầu Hội, tôn chỉ, mục đích và lĩnh vực hoạt động của Hội.
  3. Danh bạ đăng ký các Hội phải được cập nhật thường xuyên và được công bố rộng rãi cho công chúng dưới hình thức Kỷ yếu định kỳ hoặc trên trang chủ (website) mạng Internet, kết nối với trang chủ (website) của Chính phủ.

Chương III. Tổ chức và hoạt động của Hội

Điều 21. Tổ chức và hoạt động của Hội

Hội tổ chức và hoạt động phù hợp với Điều lệ của Hội. Hội được làm những gì mà pháp luật không cấm.

Điều 22. Những việc Hội không được làm

Nghiêm cấm Hội thực hiện những hành vi dưới đây:

  1. Những hoạt động gây hại đến trật tự công cộng, an ninh quốc gia, chống phá Nhà nước.
  2. Những hoạt động xâm hại đối với thuần phong, mỹ tục, đạo đức xã hội, truyền thống và bản sắc văn hóa dân tộc, những hoạt động mang tính chất mê tín dị đoan.
  3. Những hoạt động làm ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng, gây hại đối với tài nguyên thiên nhiên và môi trường.
  4. Những hoạt động gây thiệt hại đến quyền và tự do cá nhân, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, và cộng đồng.
  5. Những hoạt động trái với Điều lệ của Hội
  6. Những hoạt động trái với pháp luật Việt Nam.

Điều 23. Hội viên

  1. Hội viên của Hội có thể là cá nhân hoặc tổ chức được quy định trong Điều lệ Hội
  2. Điều lệ Hội quy định cụ thể về quy chế Hội viên, như độ tuổi, tiêu chuẩn, thủ tục kết nạp hội viên mới, thủ tục rút khỏi hội, thủ tục khen thưởng và kỷ luật đối với Hội viên, quyền và nghĩa vụ của hội viên, quy chế hội viên danh dự, hội viên liên kết.

Điều 24. Cơ cấu tổ chức của Hội

1. Cơ cấu tổ chức của Hội bao gồm những cơ quan chủ yếu như sau:

a) Đại hội nhiệm kỳ, Đại hội bất thường

b) Ban lãnh đạo Hội

c) Cơ quan kiểm tra

d) Các bộ phận giúp việc (văn phòng, tổ chức, v.v..)

e) Pháp nhân trực thuộc

f) Chi nhánh, văn phòng đại diện của Hội

g) Các cơ quan, tổ chức khác của Hội

2. Điều lệ Hội quy định cụ thể về cơ cấu tổ chức của Hội

Điều 25. Đại hội nhiệm kỳ

  1. Đại hội nhiệm kỳ là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Hội
  2. Đại hội nhiệm kỳ có thể là đại hội toàn thể hoặc đại hội, đại biểu hội viên
  3. Việc bầu đại biểu dự đại hội nhiệm kỳ do Điều lệ Hội quy định
  4. Nhiệm kỳ đại hội, nội dung và cách thức tiến hành đại hội do điều lệ Hội quy định.

Điều 26. Đại hội bất thường

Đại hội bất thường được triệu tập và tiến hành theo các quy định của Điều lệ Hội

Điều 27. Ban lãnh đạo Hội

  1. Ban lãnh đạo Hội điều hành hoạt động của Hội giữa hai kỳ đại hội
  2. Nhiệm kỳ của Ban lãnh đạo Hội theo nhiệm kỳ của đại hội
  3. Cơ cấu, số lượng, trách nhiệm và quyền hạn của Ban lãnh đạo Hội do Điều lệ Hội, Nghị quyết của đại hội quy định.
  4. Thành viên Ban lãnh đạo Hội phải là những người có thân nhân rõ ràng, đủ năng lực hành vi dân sự.

Điều 28. Trách nhiệm và quyền hạn của Người đứng đầu Hội

Người đứng đầu Hội có trách nhiệm và quyền hạn như sau:

  1. Là người đại diện cho Hội, chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hoạt động nhân danh Hội
  2. Tổ chức lãnh đạo, điều hành hoạt động của Hội theo quy định của Điều lệ Hội, phù hợp với pháp luật.

Điều 29. Cơ quan kiểm tra của Hội

  1. Cơ quan kiểm tra có trách nhiệm kiểm tra, giám sát hoạt động của mọi cá nhân, tổ chức của Hội trong việc thực hiện Điều lệ Hội, Nghị quyết đại hội và việc tuân thủ pháp luật.
  2. Điều lệ Hội quy định cụ thể về tổ chức và cơ chế hoạt động, chế độ báo cáo của cơ quan kiểm tra của Hội

Điều 30. Các cơ quan giúp việc của Hội

Điều lệ Hội quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan giúp việc của Hội.

Điều 31. Pháp nhân trực thuộc của Hội

  1. Hội được lập pháp nhân trực thuộc Hội. Việc thành lập pháp nhân thuộc Hội theo quy định của pháp luật và theo Điều lệ Hội.
  2. Các thông tin về pháp nhân trực thuộc Hội phải được cập nhật cùng với thông tin về Hội vào Danh bạ đăng ký các Hội.

Điều 32. Chi nhánh, văn phòng đại diện của Hội

  1. Hội được lập văn phòng đại diện, chi nhánh của Hội ở nước ngoài phù hợp với pháp luật của Việt Nam và của nước sở tại.
  2. Giấy chứng nhận đăng ký thành lập Hội có giá trị và hiệu lực trên phạm vi toàn quốc. Khi mở chi hội, chi nhánh, văn phòng đại diện tại địa phương khác, Hội không cần làm thủ tục đăng ký. Sau khi thành lập, Hội có trách nhiệm báo cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 46 của Luật này.

Điều 33: Quyền hạn của Hội

Cùng với những quyền được nêu tại các quy định khác của Luật này, Hội được hưởng một số quyền như sau:

  1. Tổ chức, hoạt động theo điều lệ Hội
  2. Quảng bá về Hội
  3. Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Hội viên
  4. Bồi dưỡng kiến thức, nâng cao năng lực cho Hội viên
  5. Tư vấn phát triển, giám định xã hội cho các tổ chức và cá nhân có nhu cầu
  6. Tham gia đóng góp ý kiến trong việc hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật, giám sát việc thực thi pháp luật và chính sách
  7. Được tiếp nhận hoặc tham gia đấu thầu thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học, các chương trình phát triển kinh tế xã hội, các chương trình xã hội mục tiêu, các chương trình dự án nhân đạo, các đề án dịch vụ công cộng, v.v..
  8. Thực hiện dịch vụ công do nhà nước chuyển giao
  9. Được hoạt động quyên góp nguồn nhân lực, tài lực nhằm mục đích cứu trợ nhân đạo, từ thiện, trợ giúp xã hội theo các quy định của pháp luật
  10. Được quyền tự chủ và tự trang trải về tài chính
  11. Được tiến hành các hoạt động kinh doanh, dịch vụ tạo nguồn thu, không vì mục đích lợi nhuận, nhằm phục vụ cho hoạt động của Hội.
  12. Được tiếp nhận sự hỗ trợ tài chính từ các cơ quan Nhà nước, các tổ chức và cá nhân trong nước và nước ngoài.
  13. Được duy trì và phát triển các quan hệ hợp tác quốc tế với các cá nhân, tổ chức quốc tế.
  14. Những quyền khác phát sinh từ những hoạt động hợp pháp của Hội

Điều 34. Nghĩa vụ của Hội

Bên cạnh những nghĩa vụ được ghi nhận tại các quy định khác của Luật này, Hội phải tuân thủ những nghĩa vụ sau đây:

  1. Hội và các hội viên hoạt động trong khuôn khổ Điều lệ Hội và pháp luật
  2. Ban lãnh đạo Hội có nghĩa vụ báo cáo hoạt động định kỳ cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của Điều 46 của Luật này.
  3. Khi có những thay đổi về Người đứng đầu Hội, về địa chỉ trụ sở hoạt động của Hội, Ban lãnh đạo Hội có nghĩa vụ báo cáo trong vòng 30 ngày với cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của Điều 46 của Luật này.
  4. Ban lãnh đạo Hội có nghĩa vụ chấp hành việc thanh tra, kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền khi Hội có dấu hiệu vi phạm pháp luật theo trình tự thủ tục do luật quy định.
  5. Ban lãnh đạo Hội có nghĩa vụ thực hiện các quy định của pháp luật về kế toán, tài chính, duy trì chế độ báo cáo tài chính, thực hiện nguyên tắc tài chính công khai, minh bạch đối với hội viên.
  6. Ban lãnh đạo Hội có nghĩa vụ thực hiện các quy định của pháp luật về kế toán, tài chính, kế toán của Hội, hồ sơ về tổ chức và hoạt động của Hội.
  7. Những nghĩa vụ khác phát sinh từ những hoạt động hợp pháp của Hội.

Điều 35. Tư cách pháp nhân của Hội

  1. Hội có đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền là pháp nhân có trách nhiệm hữu hạn.
  2. Tư cách pháp nhân của Hội là bình đẳng với các pháp nhân khác trước tòa án, cơ quan giải quyết tranh chấp và trong các giao dịch pháp lý.
  3. Pháp nhân trực thuộc Hội, Hội thành viên trong Liên hiệp hội có tư cách pháp nhân độc lập phù hợp với Điều lệ của mình.

Điều 36.Chia tách và sáp nhập Hội

  1. Việc chia tách và sáp nhập Hội được tiến hành theo các quy định của Điều lệ Hội, các Nghị quyết của Hội, và các thỏa thuận giữa Hội với Hội khác hoặc tổ chức liên quan.
  2. Việc chia tách, sáp nhập Hội làm phát sinh một cách tương ứng việc chia tách và sáp nhập các quyền và nghĩa vụ giữa Hội với các cá nhân, tổ chức liên quan.
  3. Quá trình tiến hành chia tách, hoặc sáp nhập Hội phải được thực hiện một cách minh bạch, công khai trong Hội và phải đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của hội viên.
  4. Hội hình thành do có sự chia tách, có nghĩa vụ tiến hành các thủ tục đăng ký theo các quy định của Luật này với cơ quan nhà nước có thẩm quyền được quy định tại Điều 46 của Luật này.
  5. Hội hình thành trên cơ sở sáp nhập các hội, có nghĩa vụ báo cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 46 của Luật này.

Điều 37. Giải thể Hội

Hội bị giải thể trong những trường hợp sau:

  1. Tự giải thể.
  2. Bị giải thể bằng quyết định hành chính của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền hoặc của Tòa án.

Điều 38. Hội tự giải thể

1. Hội tự giải thể khi phát sinh một trong các trường hợp sau:

a)         Hết thời hạn hoạt động theo quy định của Điều lệ Hội

b)         Không còn năng lực về tài chính, nguồn nhân lực, để thực hiện các quyền và nghĩa vụ được ghi nhận trong Điều lệ.

c)         Khi quá 1/2 tổng số hội viên của Hội mong muốn giải thể Hội.

2. Điều lệ Hội quy định cụ thể về điều kiện, thủ tục tự giải thể của Hội

Điều 39. Trách nhiệm của Người đứng đầu hội khi Hôi tự giải thể

1. Sau khi Hội tự giải thể, Người đứng đầu hội có trách nhiệm báo cáo và gửi tới cơ quan nhà nước có thẩm quyền những văn bản như sau:

a)      Báo cáo về việc Hội tự giải thể, với những nội dung: phương thức xử lý tài sản, tài chính, tình hình nợ, xử lý quyền và lợi ích của hội viên, của người lao động

b)      Nghị quyết giải thể hội, những hồ sơ và tài liệu liên quan tới việc tự giải thể hội

c)      Công bố liên tục trong ba số liên tiếp của báo viết phát hành toàn quốc đối với hội có phạm vi hoạt động cả nước liên tỉnh, trên báo viết địa phương đối với hội có phạm vi hoạt động tại địa phương về việc giải thể Hội.

2. Sau khi đã gửi báo cáo về việc tự giải thể hội, nếu không có ý kiến gì khác từ phía cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo phân cấp tại Điều 46 của Luật này, thì trách nhiệm của Người đứng đầu Hội mới chấm dứt.

Điều 40. Tự giải thể Hội tại Tòa án

  1. Nếu việc tự giải thể Hội làm phát sinh tranh chấp giữa Hội về tài sản, tài chính với cá nhân hoặc pháp nhân khác, thì tư cách pháp nhân của Hội chỉ được coi là chấm dứt sau khi có quyết định của Tòa án.
  2. Người đứng đầu Hội được coi là đã hết trách nhiệm khi Tòa án công nhận việc tự giải thể của Hội.
  3. Người đứng đầu Hội có trách nhiệm báo cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc tự giải thể Hội thông qua Tòa án, gửi kèm theo Quyết định của tòa án về việc giải thể Hội, xử lý các vấn đề về tài sản, tài chính phát sinh.

Điều 41. Trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi Hội tự giải thể

Khi nhận được báo cáo về việc tự giải thể Hội, Cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm xóa tên Hội đã tự giải thể khỏi Danh bạ đăng ký các Hội.

Điều 42. Hội bị buộc giải thể.

Hội bị buộc giải thể trong các trường hợp sau:

a)        Không hoạt động trong vòng 24 tháng liên tục

b)       Khi có Nghị quyết của đại hội về việc tự giải thể mà Ban lãnh đạo Hội không chấp hành.

c)        Hết thời hạn hoạt động theo Điều lệ mà Hội không tiến hành thủ tục tự giải thể.

d)       Hoạt động của Hội vi phạm nghiêm trọng Điều lệ Hội, Luật này và các văn bản pháp luật khác.

Điều 43. Hội bị buộc phải giải thể bằng Quyết định hành chính của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

  1. Trong trường hợp Hội không hoạt động như quy định tại mục a) Điều 42 của Luật này, cơ quan nhà nước có thẩm quyền được quy định tại Điều 46, có thể nhắc nhở và dành cho Hội thời hạn tối đa là 6 tháng đề Hội triển khai hoạt động. Nếu quá 6 tháng kể từ khi được nhắc nhở, Hội vẫn không tiến hành hoạt động, cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ ban hành Quyết định buộc giải thể Hội.
  2. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại Điều 46, ban hành Quyết định buộc giải thể Hội đối với các trường hợp nêu tại mục b) và c) Điều 42 của Luật này.
  3. Những vấn đề tranh chấp phát sinh về tài chính, tài sản của Hội khi bị buộc giải thể phải được giải quyết thông qua Tòa án.
  4. Hội có quyền khiếu nại về Quyết định hành chính buộc giải thể Hôi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại Điều 46, ban hành theo thủ tục hành chính hoặc ra trước Tòa Hành chính.

Điều 44. Hội bị buộc giải thể bằng Quyết định của Tòa án

  1. Nếu xét thấy hoạt động của Hội vi phạm nghiêm trọng Điều lệ Hội, Luật này và các ăn bản pháp luật khác, cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại Điều 46, có thể khởi kiện Hội ra trước tòa án với yêu cầu buộc Hội giải thể.
  2. Trong trường hợp hoạt động của Hội vi phạm nghiêm trọng Điều lệ Hôi và luật pháp do những hành vi cố ý của Người đứng đầu hội, hoặc các thành viên ban lãnh đạo Hội, phải xem xét và truy cứu trách nhiệm của những cá nhân liên quan, Hội không thể vi thế mà bị giải thể.
  3. Hội có quyền kháng án đối với Quyết định buộc giải thể do Tòa án ban hành theo các quy định tố tụng do luật định.

Điều 45. Trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi Hội bị buộc giải thể

Sau khi ban hành Quyết định hành chính buộc Hội giải thể hoặc sau khi có Quyết định của Tòa án buộc Hội giải thể, cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo phân cấp tại Điều 46 của Luật này, xóa tên Hội bị buộc giải thể khỏi Danh bạ đăng ký các Hội.

Chương IV. Quản lý nhà nước đối với Hội

Điều 46. Cơ quan có thẩm quyền quản lý nhà nước đối với Hội là:

  1. Bộ Nội vụ thực hiện quản lý nhà nước đối với Hội, có phạm vi hoạt động trên phạm vi toàn quốc hoặc liên tỉnh theo các quy định của Luật này
  2. UBND Tỉnh, thành phố trực thuộc TW, thực hiện quản lý nhà nước đối với Hội có phạm vi hoạt động trong địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương theo các quy định của Luật này.
  3. UBND Quận, Huyện thực hiện quản lý nhà nước đối với Hội có phạm vi hoạt động trong địa bàn Quận, Huyện theo các quy định của Luật này.

Điều 47. Nội dung quản lý nhà nước đối với Hội

Cùng với những quy định khác của Luật này, cơ quan quản lý nhà nước đối với Hội có những quyền và trách nhiệm như sau:

  1. Bộ Nội vụ xây dựng, ban hành và hướng dẫn thực hiện các văn bản thi hành luật về Hội theo nguyên tắc tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện quyền lập Hội được quy định tại Luật này.
  2. Thanh tra, kiểm tra việc tuân thủ pháp luật của Hội
  3. Giải quyết khiếu nại, tố cáo theo Luật Khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình thực thi pháp luật về Hội, theo phân cấp được quy định tại Điều 46 của Luật này.
  4. Tiếp nhận báo cáo định kỳ về hoạt động của Hội, theo phân cấp được quy định tại Điều 46 của Luật này.
  5. Bộ Nội vụ thiết lập và duy trì kênh đối thoại, diễn đàn với các Hội nhằm tạo sự tham gia của các Hội vào việc hoạch định, đánh giá chính sách và hoàn thiện pháp luật đối với Hội.
  6. Xây dựng, duy trì Danh bạ đăng ký các Hội, theo phân cấp được quy định tại Điều 46 của Luật này.
  7. Cung cấp thông tin về tổ chức, hoạt động của Hội theo yêu cầu của các cá nhân, tổ chức, cơ quan nhà nước, nhà tài trợ, theo phân cấp được quy định tại Điều 46 của Luật này.
  8. Định kỳ tổng kết và báo cáo về hoạt động của các Hội, theo phân cấp được quy định tại Điều 46 của Luật này.
  9. Tổ chức, bình chọn, khen thưởng những Hội, cá nhân hội viên có thành tích xuất sắc trong các hoạt động trợ giúp nhà nước và xã hội, như xây dựng chính sách, pháp luật, xoá đói giảm nghèo, cứu trợ nhân đạo, trợ giúp xã hội, v.v.

Điều 48. Quyền hạn, trách nhiệm của các Bộ, ngành * [1]

Các Bộ, ngành có những quyền hạn và trách nhiệm đối với Hội như sau:

a)      Cung cấp thông tin về chiến lược và mục tiêu phát triển của Ngành

b)      Hướng dẫn, tạo điều kiện để hội thực hiện những quy định của Nhà nước về lĩnh vực hoạt động thuộc Bộ quản lý

c)      Tạo điều kiện thuận lợi cho Hội tham gia thực hiện các chương trình, đề tại nghiên cứu của ngành, các chương trình xoá đói giảm nghèo, phát triển kinh tế vùng sâu, vùng xa, các chương trình xã hội, y tế, giáo dục cộng đồng, v.v. trên cơ sở minh bạch, bình đẳng với các cơ quan nhà nước và các tổ chức khác

d)      Chuyển cho Hội đảm nhiệm các dịch vụ công trong lĩnh vực quản lý trên cơ sở minh bạch, bình đẳng với các cơ quan nhà nước và các tổ chức khác

e)      Thanh tra, kiểm tra Hội khi có dấu hiệu vi phạm theo

f)        Xử lý, hoặc kiến nghị với cơ quan quản lý nhà nước đối với Hội về những biện pháp cần khắc phục khi có vi phạm

Ngoài những quy định tại khoản 1 Điều này, các Bộ, ngành không thực hiện bất kỳ sự quản lý hành chính nào khác đối với Hội.

Điều 49. Chế độ báo cáo của Hội

  1. Hội có trách nhiệm báo cáo định kỳ, 1 năm một lần đối với Hội hoạt động ở phạm vi toàn quốc và cấp tỉnh, 2 năm một lần đối với Hội hoạt động ở huyện, cấp xã.
  2. Báo cáo phải gồm những nội dung sau đây:

a)      những thay đổi về tổ chức, nhân sự chủ chốt của Hội (nếu có)

b)      những thay đổi về địa điểm trụ sở, địa bàn hoạt động (nếu có)

c)      những hoạt động đã và đang thực hiện

d)      dự kiến phương hướng hoạt động

e)      báo cáo tài chính

  1. Những hội có quy mô nhỏ, hoặc những Hội hoạt động ở cấp huyện, xã tuỳ theo tình hình thực tế có thể không cần làm báo cáo định kỳ. Khi cần thiết, cơ quan nhà nước có thẩm quyền được phân cấp theo quy định tại Điều 46 của Luật này có thể trực tiếp yêu cầu cung cấp thông tin.
  2. Cơ quan có thẩm quyền được phân cấp theo quy định tại Điều 46 của Luật này có trách nhiệm theo dõi hoạt động của Hội thông qua các báo cáo của Hội đồng thời cập nhật thông tin về Hội vào Danh bạ Đăng ký các Hội.

Chương V. Tài chính của Hội

Điều 50. Kinh phí hoạt động của Hội

Hội hoạt động dựa vào các nguồn kinh phí như sau:

a)      Hội phí

b)      Đóng góp của hội viên

c)      Tài trợ của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong nước và ngoài nước

d)      Tài trợ từ nguồn ngân sách nhà nước dưới các hình thức giao việc, chỉ định thầu, đấu thầu hạn chế, đấu thầu mở rộng, v.v.

e)      Các khoản thu hip pháp từ hoạt động kinh doanh, dịch vụ của Hội

Điều 51. Chế độ đối với cán bộ quản lý và nhân viên làm việc cho Hội

1.      Tuỳ thuộc vào khả năng tài chính của Hội, cán bộ và nhân viên làm việc cho Hội được hưởng lương xứng đáng với công sức và năng lực chuyên môn trên cơ sở hợp đồng lao động.

2.      Định mức lương của cán bộ, nhân viên làm việc cho Hội được xem xét thông qua tại Đại hội thành lập, Đại hội nhiệm kỳ.

3.      Cán bộ, nhân viên làm việc cho Hội phải được hưởng đầy đủ các chế độ mà pháp luật quy định cho người lao động (bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, v.v.).

Điều 52. Hoạt động kinh doanh, dịch vụ của Hội

  1. Hội được phép hoạt động kinh doanh, dịch vụ chỉ nhằm để tạo nguồn thu cho hoạt động của Hội. Hoạt động kinh doanh, dịch vụ của Hội phải tuân thủ các quy định của Luật doanh nghiệp.
  2. Những hoạt động từ thiện, nhân đạo, hoạt động vì lợi ích công cộng do Hội thực hiện, thì được hưởng ưu đãi miễn, giảm thuế theo quy định của pháp luật về thuế.
  3. Chính phủ tạo điều kiện thuận lợi để Hội tham gia đấu thầu các đề tài nghiên cứu khoa học, các chương trình phát triển kinh tế xã hội, trợ giúp xã hội, v.v. theo nguyên tắc minh bạch, bình đẳng với các cơ quan nhà nước và các tổ chức khác.

Điều 53. Khuyến khích hoạt động quyên góp nhân đạo, từ thiện

1.      Cá nhân đóng góp cho hoạt động cứu trợ nhân đạo, từ thiện thì được tính trừ vào thu nhập phải chịu thuế.

2.      Đóng góp của doanh nghiệp cho hoạt động cứu trợ nhân đạo, từ thiện thì được tính trừ vào chi phí phải chịu thuế của doanh nghiệp.

3.      Tài trợ của doanh nghiệp cho các hoạt động vì lợi ích công cộng trong lĩnh vực y tế, giáo dục, môi trường, xã hội, v.v., thì được tính trừ vào chi phí phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp.

Điều 54. Quản lý, sử dụng tài chính, tài sản của Hội

Hội quản lý, sử dụng tài chính, tài sản theo quy định của Điều lệ Hội, các văn bản của Hội, và các quy định liên quan của pháp luật.

Chương VI. Điều khoản thi hành.

Điều 55. Hiệu lực thi hành

  1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày   tháng   năm 2006.
  2. Luật này thay thế Sắc Lệnh số 102 SL/L004 ngày 20/5/1957 ban hành Luật quy định về quyền lập Hội.
  3. Hội thành lập trước ngày Luật này có hiệu lực không phải làm lại thủ tục thành lập, đăng ký hoạt động theo quy định của Luật này, và phải có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ các thông tin về Hội, gửi tới cơ quan nhà nước có thẩm quyền được phân cấp theo quy định tại Điều 46 của Luật này để đưa vào Danh bạ đăng ký các Hội.
  4. Các quy định của Nhà nước về hội trái với nội dung của Luật này đều bị bãi bỏ.

Điều 56. Văn bản thi hành

  1. Chính phủ ban hành các văn bản chi tiết thi hành Luật này.
  2. Văn bản hướng dẫn, thi hành luật phải được ban hành phù hợp với tinh thần và lời văn của Luật này, tạo thuận lợi cho việc áp dụng, thi hành, đảm bảo không làm thu hẹp quyền lợi và làm khó khăn hơn cho việc thực hiện quyền của các cá nhân, tổ chức liên quan.

---------------------------



[1] Nghị định 86/2002/NĐ-CP về chức năng, quyền hạn của Bộ có quy định quyền hạn của Bộ đối với Hội như sau: “...b) kiểm tra việc thực hiện các quy định của Nhà nước về ngành, lĩnh vực đối với Hội, tổ chức phi chính phủ, xử lý hoặc kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý các vi phạm pháp luật của Hội, tổ chức phi chính phủ theo quy định của pháp luật”

Lĩnh vực liên quan

Phiên bản 1

Dự thảo bản .pdf

Ngày nhập

11/04/2006

Đã xem

2103 lượt xem

Dự thảo bản .doc

Ngày nhập

11/04/2006

Đã xem

2103 lượt xem

Thông tin tài liệu

Số lượng file 2

Cơ quan soạn thảo Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam

Loại tài liệu Luật

Đăng nhập để theo dõi dự thảo

Ý kiến của VCCI

  • Hiện tại, VCCI chưa có ý kiến về văn bản này. Vui lòng đăng ký theo dõi dự thảo để nhận thông tin khi VCCI có ý kiến.

Ý kiến về dự thảo ( 0 ý kiến )

Văn bản vui lòng gửi tới địa chỉ (có thể gửi qua fax hoặc email):
Ban pháp chế VCCI - số 9 Đào Duy Anh, Đống Đa, Hà Nội.
Điện thoại: 024 3577 0632 / 024 3577 2002 - số máy lẻ : 355. Fax: 024 3577 1459.
Email: xdphapluat@vcci.com.vn / xdphapluat.vcci@gmail.com