Theo dõi (0)

DỰ THẢO LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA BỘ LUẬT LAO ĐỘNG (PHẦN LIÊN QUAN ĐẾN ĐÌNH CÔNG VÀ GIẢI QUYẾT ĐÌNH CÔNG)

Ngày đăng: 14:25 02-06-2006 | 904 lượt xem

Cơ quan chịu trách nhiệm soạn thảo

Bộ Lao động Thương binh và Xã hội

Trạng thái

Đã xong

Đối tượng chịu tác động

N/A,

Phạm vi điều chỉnh

Tóm lược dự thảo

LUẬT
SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA BỘ LUẬT LAO ĐỘNG
 

Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10;
Luật này sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật lao động đã được Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 23 tháng 6 năm 1994, đã được Quốc hội Khoá X sửa đổi, bổ sung một số điều tại kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 02 tháng 4 năm 2002, 

Điều 1.
Sửa đổi, bổ sung Chương XIV giải quyết tranh chấp lao động của Bộ luật Lao động như sau: 

Mục I
QUY ĐỊNH CHUNG 

1. Điều 157 được sửa đổi, bổ sung như sau:
Điều 157
1. Tranh chấp lao động là những tranh chấp về quyền và lợi ích phát sinh trong quan hệ lao động giữa người lao động, tập thể lao động với người sử dụng lao động.
Tranh chấp lao động bao gồm tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động và tranh chấp lao động tập thể giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động.
2. Tranh chấp lao động tập thể về quyền là tranh chấp về việc thực hiện các quy định trong pháp luật lao động; trong thoả ước lao động tập thể; trong nội quy lao động đã được đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc trong các quy chế hợp pháp khác, mà tập thể lao động cho rằng người sử dụng lao động vi phạm.
3. Tranh chấp lao động tập thể về lợi ích là tranh chấp về việc xác lập các điều kiện lao độngmớicó lợi hơn cho người lao động so với quy định của pháp luật lao động, thoả ước lao động tập thể, quy chế và các thoả thuận khác ở doanh nghiệp trong quá trình thương lượng giữa hai bên.
4. Tập thể lao động là những người lao động cùng làm việc trong một doanh nghiệp hoặc một bộ phận của doanh nghiệp.
5. Điều kiện lao động mới là việc sửa đổi, bổ sung thoả ước lao động tập thể;các điều kiện về tiền lương, tiền thưởng, thu nhập, định mức lao động, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và các phúc lợi khác trong doanh nghiệp.
 
2. Điều 158 được sửa đổi, bổ sung như sau:
Điều 158
Tranh chấp lao động được giải quyết theo những nguyên tắc sau đây:
1. Thương lượng trực tiếp, tự dàn xếp và tự quyết định của hai bên tranh chấp tại nơi phát sinh tranh chấp;  
2. Thông qua hoà giải, trọng tài trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích của hai bên, tôn trọng lợi ích chung của xã hội và tuân theo pháp luật;
3. Giải quyết công khai, khách quan, kịp thời, nhanh chóng và đúng pháp luật;
4. Có sự tham gia của đại diện công đoàn và đại diện người sử dụng lao động trong quá trình giải quyết tranh chấp.”
 
3. Điều 159 được sửa đổi, bổ sung như sau:
Điều 159
Cơ quan nhà nước và các tổ chức có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi cho hai bên giải quyết tranh chấp thông qua thương lượng, hoà giải nhằm đảm bảo lợi ích của hai bên, ổn định sản xuất, kinh doanh, trật tự và an toàn xã hội.
Việc giải quyết tranh chấp lao động tại cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động được tiến hành khi một bên từ chối thương lượng hoặc hai bên đã thương lượng mà vẫn không giải quyết được và một hoặc hai bên có đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động."
 
4. Điều 160 được giữ nguyên như sau:
“Điều 160
1. Trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động, các bên tranh chấp có quyền:
a) Trực tiếp hoặc thông qua người đại diện của mình tham gia quá trình giải quyết tranh chấp;
b) Rút đơn hoặc thay đổi nội dung tranh chấp;
c) Yêu cầu thay người trực tiếp tiến hành giải quyết tranh chấp, nếu có lý do chính đáng cho rằng người đó không thể bảo đảm tính khách quan, công bằng trong việc giải quyết tranh chấp.
2. Trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động, các bên tranh chấp có nghĩa vụ:
a) Cung cấp đầy đủ các tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp lao động;
b) Nghiêm chỉnh chấp hành các thoả thuận đã đạt được, biên bản hoà giải thành, quyết định đã có hiệu lực của cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp lao động, bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực của Toà án nhân dân.”
 
5. Điều 161 được giữ nguyên như sau:
“Điều 161
Cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp lao động trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền yêu cầu các bên tranh chấp lao động, các cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan cung cấp tài liệu, chứng cứ; trưng cầu giám định, mời nhân chứng và người có liên quan trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động.”
 
6. Điều 163 được chuyển lên thành Điều 162 và sửa đổi, bổ sung như sau:
Điều 162
1. Hội đồng hoà giải lao động cơ sở phải được thành lập trong các doanh nghiệp có công đoàn cơ sở hoặc Ban chấp hành công đoàn lâm thời.
Thành phần của Hội đồng hoà giải lao động cơ sở gồm số đại diện ngang nhau của bên người lao động và bên người sử dụng lao động. Số lượng thành viên của Hội đồng do hai bên thoả thuận.
2. Nhiệm kỳ của Hội đồng hoà giải lao động cơ sở là hai năm. Đại diện của mỗi bên luân phiên làm Chủ tịch và Thư ký Hội đồng. Hội đồng hoà giải lao động cơ sở làm việc theo nguyên tắc thoả thuận và nhất trí.
3. Người sử dụng lao động bảo đảm điều kiện cần thiết cho Hội đồng hoà giải lao động cơ sở.”
 
7. Điều 165 được chuyển lên thành Điều 163 và sửa đổi, bổ sung như sau:
Điều 163
Hoà giải viên lao động tiến hành hoà giải đối với các tranh chấp lao động quy định tại Điều 157 của Bộ Luật này, tranh chấp về thực hiện hợp đồng học nghề và chi phí dạy nghề.”
 
8. Điều 164 được sửa đổi, bổ sung như sau:
Điều 164
Trình tự hoà giải tranh chấp lao động được quy định như sau:
1. Hội đồng hoà giải lao động cơ sở hoặc hoà giải viên lao động phải tiến hành hoà giải trong thời gian ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu hoà giải. Tại phiên họp hoà giải, phải có mặt hai bên tranh chấp hoặc đại diện được uỷ quyền của họ.
2. Hội đồng hoà giải lao động cơ sở hoặc hoà giải viên lao động đưa ra phương án hoà giải để các bên xem xét. Nếu hai bên chấp nhận phương án hoà giải thì lập biên bản hoà giải thành, có chữ ký của hai bên tranh chấp, của Chủ tịch và thư ký Hội đồng hoà giải lao động cơ sở hoặc hoà giải viên lao động. Hai bên có nghĩa vụ chấp hành các thoả thuận ghi trong biên bản hoà giải thành.
3. Trong trường hợp hoà giải không thành hoặc một bên tranh chấp vắng mặt đến lần thứ hai theo giấy triệu tập hợp lệ mà không có lý do chính đáng, thì Hội đồng hoà giải lao động cơ sở hoặc hoà giải viên lao động lập biên bản hoà giải không thành. Bản sao biên bản phải được gửi cho hai bên tranh chấp trong thời gian ba ngày làm việc, kể từ ngày hoà giải không thành.” 

Mục II
THẨM QUYỀN VÀ TRÌNH TỰ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG CÁ NHÂN

9. Điều 162 được chuyển thành Điều 165 và giữ nguyên nội dung như sau:
Điều 165
Các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân gồm:
1. Hội đồng hoà giải lao động cơ sở hoặc hoà giải viên lao động cấp huyện;
2. Toà án nhân dân.”
 
10. Bổ sung Điều 165a như sau:
“Điều 165a
1. Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền hoà giải theo quy định tại khoản 1 Điều 165 tiến hành hoà giải tranh chấp lao động cá nhân theo quy định tại Điều 164 Bộ luật này.
2. Trong trường hợp hoà giải không thành, mỗi bên hoặc cả hai bên tranh chấp có quyền yêu cầu Toà án nhân dân giải quyết. Hồ sơ gửi Toà án nhân dân phải kèm theo biên bản hoà giải không thành.
3. Hết thời gian giải quyết theo quy định tại khoản 1 Điều 164, nếu Hội đồng hoà giải lao động cơ sở hoặc hoà giải viên lao động không tiến hành hoà giải thì mỗi bên hoặc cả hai bên tranh chấp có quyền yêu cầu Toà án nhân dân giải quyết.”
 
11. Điều 166 được giữ nguyên như sau:
Điều 166
1. Toà án nhân dân giải quyết các tranh chấp lao động cá nhân mà Hội đồng hoà giải lao động cơ sở, hoà giải viên lao động hoà giải không thành hoặc Hội đồng hoà giải lao động cơ sở, hoà giải viên lao động không giải quyết trong thời hạn quy định.
2. Toà án nhân dân giải quyết những tranh chấp lao động cá nhân sau đây mà không nhất thiết phải qua hoà giải tại cơ sở:
a) Tranh chấp về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;
b) Tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;
c) Tranh chấp giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;
d) Tranh chấp về bảo hiểm xã hội quy định tại điểm b khoản 2 Điều 151 của Bộ luật này;
đ) Tranh chấp về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp xuất khẩu lao động.
3. Người lao động được miễn án phí trong các hoạt động tố tụng để đòi tiền lương, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, tiền bồi thường về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, để giải quyết những vấn đề bồi thường thiệt hại hoặc vì bị sa thải, chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.
4. Khi xét xử, nếu Toà án nhân dân phát hiện hợp đồng lao động trái với thoả ước lao động tập thể, pháp luật lao động; thoả ước tập thể trái với pháp luật lao động thì tuyên bố hợp đồng lao động, thoả ước tập thể vô hiệu từng phần hoặc toàn bộ.
5. Chính phủ quy định cụ thể việc giải quyết hậu quả đối với các trường hợp hợp đồng lao động, thoả ước tập thể bị tuyên bố vô hiệu quy định tại khoản 3 Điều 29, khoản 3 Điều 48 và khoản 4 Điều này.”
 
12. Điều 167 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 167
Thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân:
1. Một năm, kể từ ngày xảy ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích của mình bị vi phạm đối với các tranh chấp lao động quy định tại các điểm a, b và c khoản 2 Điều 166;
2. Một năm, kể từ khi có đơn yêu cầu giải quyết đối với tranh chấp quy định tại điểm d khoản 2 Điều 166;
3. Ba năm, kể từ ngày xảy ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích của mình bi vi phạm đối với tranh chấp quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 166;
4. Sáu tháng, kể từ ngày xảy ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích của mình bị vi phạm đối với các loại tranh chấp khác.” 

Mục III
THẨM QUYỀN VÀ TRÌNH TỰ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG TẬP THỂ 

13. Điều 168 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 168
Các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền, gồm:
1. Hội đồng hoà giải lao động cơ sở hoặc hoà giải viên lao động cấp huyện.
2. Toà án nhân dân.” 
  
14. Bổ sung Điều 168a như sau:
“Điều 168a
Các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích, gồm:
1. Hội đồng hoà giải lao động cơ sở hoặc hoà giải viên lao động cấp huyện.
2. Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh.”
 
15. Điều 169 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 169
1. Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh gồm các thành viên chuyên trách và kiêm chức là đại diện của cơ quan lao động, đại diện của công đoàn, đại diện của người sử dụng lao động, đại diện của Hội luật gia và người có kinh nghiệm trong lĩnh vực quan hệ lao động ở địa phương.
2. Thành phần Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh được hình thành theo số lẻ, tối đa không được quá năm người, do đại diện cơ quan lao động cấp tỉnh làm Chủ tịch.
3. Nhiệm kỳ của Hội đồng trọng tài lao động là ba năm.
4. Hội đồng trọng tài lao động quyết định theo nguyên tắc đa số, bằng cách bỏ phiếu kín.
 5. Cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh bảo đảm điều kiện cần thiết cho hoạt động của Hội đồng trọng tài lao động.”
 
16. Điều 170 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 170
1. Việc lựa chọn Hội đồng hoà giải lao động cơ sở hoặc hoà giải viên lao động giải quyết tranh chấp lao động tập thể do tập thể lao động và người sử dụng lao động quyết định.
Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền hoà giải tiến hành hoà giải tranh chấp lao động tập thể theo quy định tại Điều 164 Bộ luật này.
2. Trong trường hợp hoà giải không thành, thì Hội đồng hoà giải lao động cơ sở hoặc hoà giải viên lao động lập biên bản hoà giải không thành, ghi ý kiến của hai bên tranh chấp và của Hội đồng hoặc của hoà giải viên lao động.
Đối với tranh chấp lao động tập thể về quyền, mỗi bên hoặc cả hai bên tranh chấp có quyền yêu cầu Toà án nhân dân giải quyết.
Đối với tranh chấp lao động tập thể về lợi ích, mỗi bên hoặc cả hai bên tranh chấp có quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh giải quyết.
Hồ sơ gửi Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh hoặc Toà án nhân dân phải kèm theo biên bản hoà giải không thành.
3. Hết thời gian giải quyết theo quy định tại khoản 1 Điều 164, nếu Hội đồng hoà giải lao động cơ sở hoặc hoà giải viên lao động không tiến hành hoà giải thì một trong hai bên tranh chấp có quyền yêu cầu Toà án nhân dân giải quyết đối với tranh chấp lao động tập thể về quyền; yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh giải quyết đối với tranh chấp lao động tập thể về lợi ích.”
 
17. Điều 171 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 171
1. Hội đồng trọng tài lao động phải tiến hành hoà giải và giải quyết vụ tranh chấp lao động tập thể trong thời gian năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu.
Chậm nhất ba ngày, kể từ ngày tiến hành hoà giải và giải quyết vụ tranh chấp lao động tập thể, Hội đồng trọng tài lao động phải ra biên bản về việc giải quyết tranh chấp.
2. Phiên họp giải quyết tranh chấp lao động tập thể, phải có mặt các đại diện được uỷ quyền của hai bên tranh chấp. Trường hợp cần thiết, Hội đồng trọng tài lao động mời đại diện công đoàn cấp trên của công đoàn cơ sở và đại diện cơ quan nhà nước hữu quan tham dự phiên họp.
3. Tại phiên họp giải quyết tranh chấp lao động tập thể, Hội đồng trọng tài lao động đưa ra phương án hoà giải để hai bên xem xét.
Trong trường hợp hai bên chấp nhận phương án hoà giải thì Hội đồng trọng tài lao động lập biên bản hoà giải thành. Hai bên có nghĩa vụ chấp hành các thoả thuận ghi trong biên bản hoà giải thành.
Trường hợp hai bên không chấp nhận phương án hoà giải thì Hội đồng trọng tài lao động lập biên bản hoà giải không thành.
Biên bản hoà giải có chữ ký của hai bên tranh chấp, của Chủ tịch và Thư ký Hội đồng trọng tài lao động.”
 
18. Bổ sung Điều 171a như sau:
“Điều 171a
Thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động tập thể là một năm, kể từ ngày mà mỗi bên cho rằng quyền và lợi ích của mình bị vi phạm.”

Mục IV
ĐÌNH CÔNG VÀ GIẢI QUYẾT ĐÌNH CÔNG 

19. Điều 172 được sửa đổi, bổ sung như sau:
Điều 172
Đình cônglà sự ngừng việc tạm thời, tự nguyện và có tổ chức của tập thể lao động ở một doanh nghiệp để giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích trong quan hệ lao động.”
 
20. Điều 176 được chuyển  thành Điều 173 và sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 173
Cuộc đình công thuộc một trong những trường hợp sau đây là bất hợp pháp:
1. Không phát sinh từ tranh chấp lao động tập thể về lợi ích;
2. Không do những người lao động cùng làm việc trong một doanh nghiệp tiến hành;
3. Khi vụ tranh chấp tập thể chưa được hoặc đang được cơ quan hoà giải, trọng tài giải quyết theo quy định;
4. Tổ chức công đoàn không lấy ý kiến người lao động về đình công theo quy định tại Điều 174a hoặc vi phạm các thủ tục quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 174b của Bộ luật này;
5. Không do Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc Ban chấp hành công đoàn lâm thời (đối với nơi có Ban chấp hành công đoàn lâm thời) tổ chức và lãnh đạo;
6. Tiến hành tại doanh nghiệp không được đình công thuộc danh mục do Chính phủ quy định;
7. Khi đã có quyết định hoãn hoặc ngừng đình công của người có thẩm quyền.”
 
21. Bổ sung Điều 173a như sau:
“Điều 173a
Sau khi Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh hoà giải không thành đối với vụ tranh chấp lao động tập thể, thì Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc Ban chấp hành công đoàn lâm thời (đối với nơi có Ban chấp hành công đoàn lâm thời) tiến hành các thủ tục để đình công."
 
22. Điều 173 được chuyển thành Điều 174 và sửa đổi, bổ sung như sau:
 “Điều 174
Trong khi các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền đang tiến hành việc giải quyết tranh chấp lao động, thì không bên nào được hành động đơn phương chống lại bên kia.”
 
23. Bổ sung Điều 174a như sau:
“Điều 174 a
1. Việc tổ chức lấy ý kiến để đình công do Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc Ban chấp hành công đoàn lâm thời (đối với nơi có Ban chấp hành công đoàn lâm thời)tiến hành bằng hình thức bỏ phiếu kín hoặc lấy chữ ký trực tiếp của người lao động.
Đối với doanh nghiệp hoặc bộ phận doanh nghiệp có từ 500 lao động trở lên thì việc tổ chức lấy ý kiến có thể thông qua đại biểu đại diện của tập thể lao động.
2. Việc tổ chức lấy ý kiến để đình công được tiến hành ngoài giờ làm việc. Trường hợp lấy ý kiến để đình công trong giờ làm việc thì phải có sự đồng ý của người sử dụng lao động và phải thông báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất là một ngày.
Khi Ban chấp hành công đoàn yêu cầu thì người sử dụng lao động phải tạo điều kiện và bố trí địa điểm phù hợp tại doanh nghiệp để Ban chấp hành công đoàn tổ chức lấy ý kiến.
3. Nội dung lấy ý kiến để đình công gồm:
 a) Nội dung bản yêu cầu quy định tại khoản 2 Điều 174b của Bộ luật này;
b) Đồng ý hay không đồng ý đình công.”
 
24. Bổ sung Điều 174b như sau:
 “Điều 174b
Việc quyết định tiến hành đình công được quy định như sau:
1. Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc Ban chấp hành công đoàn lâm thời (đối với nơi có Ban chấp hành công đoàn lâm thời)ra quyết định đình công bằng văn bản, khi có trên 50% số người được hỏi ý kiến đồng ý. Nội dung quyết định gồm: ngày bắt đầu đình công, địa điểm đình công, kèm theo bản yêu cầu đã lấy ý kiến tập thể lao động. Đại diện của Ban chấp hành công đoàn phải ký tên, đóng dấu của tổ chức công đoàn vào quyết định.
2. Nội dung bản yêu cầu phải nêu rõ:
a) Những vấn đề tranh chấp tập thể đã được cơ quan, tổ chức hoà giải, trọng tài giải quyết nhưng tập thể lao động không đồng ý;
b) Kết quả lấy ý kiến đồng ý đình công;
c) Thời điểm (ngày, giờ) bắt đầu đình công;
d) Địa điểm đình công;
đ) Đại diện Ban chấp hành công đoàn ký tên, đóng dấu và thông báo rõ địa chỉ người cần  liên hệ để giải quyết.
3. ít nhất là năm ngày, trước ngày bắt đầu đình công, Ban chấp hành công đoàn phải cử đại diện (nhiều nhất là ba người) để trao bản yêu cầu cho người sử dụng lao động, đồng thời gửi một bản cho Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, một bản cho Liên đoàn lao động cấp tỉnh, một bản cho Đại diện người sử dụng lao động cấp tỉnh.
4. Hết thời hạn báo trước quy định tại khoản 3 Điều này, nếu người sử dụng lao động không chấp nhận, thì Ban chấp hành công đoàn tổ chức và lãnh đạo đình công.”
 
25. Bổ sung Điều 174c như sau:
“Điều 174c
1. Trước khi đình công và trong quá trình đình công, hai bên có quyền tiến hành thương lượng hoặc cùng đề nghị cơ quan, tổ chức tiến hành hoà giải.
2. Trước khi đình công và trong quá trình đình công, Ban chấp hành công đoàn có quyền quyết định:
 a) Nội dung bản yêu cầu trên cơ sở nội dung tranh chấp lao động tập thể mà Hội đồng hoà giải lao động cơ sở hoặc hoà giải viên lao động, Hội đồng trọng tài lao động đã giải quyết;
b) Tiến hành đình công trong cả doanh nghiệp hoặc bộ phận của doanh nghiệp;
c) Thay đổi nội dung trong bản yêu cầu hoặc rút bản yêu cầu;  
d) Chấm dứt đình công;
đ) Yêu cầu Toà án nhân dân công nhận tính hợp pháp của đình công.
3. Trước khi đình công xảy ra và trong quá trình đình công, người sử dụng lao động có quyền quyết định:
a) Chấp nhận toàn bộ hoặc một phần nội dung bản yêu cầu và thông báo bằng văn bản cho Ban chấp hành công đoàn;
b) Yêu cầu Toà án nhân dân kết luận tính bất hợp pháp của đình công.”
 
26. Bổ sung Điều 174d như sau:
Điều 174d
Sau khi Ban chấp hành công đoàn trao bản yêu cầu, hai bên tiếp tục tiến hành thương lượng hoặc đề nghị Sở Lao động-Thương binh và Xã hội, Liên đoàn lao động cấp tỉnh và Đại diện người sử dụng lao động cấp tỉnh cùng hoà giải.”
 
27. Bổ sung Điều 174đ như sau:
“Điều 174đ
1. Quyền lợi của người lao động trong thời gian đình công:
a) Người lao động tham gia đình công không được trả lương và các quyền lợi khác theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp hai bên có thoả thuận khác;
b) Người lao động không tham gia đình công nhưng phải ngừng việc vì lý do đình công, thì được trả lương ngừng việc theo quy định tại khoản 2 Điều 62 của Bộ Luật lao động và các quyền lợi khác theo quy định của pháp luật lao động;
c) Cán bộ công đoàn, ngoài thời gian được sử dụng theo quy định tại khoản 2 Điều 155 để làm công tác công đoàn, còn được người sử dụng lao động tạo điều kiện ít nhất ba ngày để tham gia vào việc giải quyết tranh chấp lao động tập thể tại doanh nghiệp.
2. Người sử dụng lao động có quyền yêu cầu tổ chức, lãnh đạo cuộc đình công bồi thường thiệt hại vật chất (nếu có) trong trường hợp cuộc đình công là bất hợp pháp.
Thủ tục tiến hành bồi thường và mức bồi thường do Chính phủ quy định."
 
28. Bổ sung Điều 174e như sau:
“Điều 174e
Những hành vi bị cấm trước, trong và sau khi đình công:
1. Cản trở việc thực hiện quyền đình công hoặc ép buộc người lao động đình công; cản trở người lao động không tham gia đình công đi làm việc;
2. Dùng bạo lực; làm tổn hại máy móc, thiết bị, tài sản của doanh nghiệp;
3. Xâm phạm trật tự, an toàn công cộng;
4. Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động, người lãnh đạo đình công hoặc điều động người lao động, người lãnh đạo đình công sang làm công việc khác, đi làm việc ở nơi khác vì lý do chuẩn bị đình công hoặc tham gia đình công;
5. Trù dập, trả thù đối với người lao động tham gia đình công, người lãnh đạo đình công;
6. Tự ý chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp để chống lại đình công;
7. Lợi dụng đình công để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật.”
 
29. Điều 174 được chuyển thành Điều 175 và sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều 175
Không được đình công ở một số doanh nghiệp cung ứng các sản phẩm, dịch vụ công ích và doanh nghiệp thiết yếu cho nền kinh tế quốc dân hoặc an ninh, quốc phòng theo danh mục do Chính phủ quy định.
Các cơ quan quản lý nhà nước phải định kỳ tổ chức nghe ý kiến của đại diện tập thể lao động và người sử dụng lao động ở các doanh nghiệp này để kịp thời giúp đỡ và giải quyết những yêu cầu chính đáng của tập thể lao động. Trong trường hợp có tranh chấp lao động tập thể, thì do Hội đồng trọng tài lao động giải quyết. Nếu một trong hai bên không đồng ý với quyết định của Hội đồng trọng tài lao động, thì có quyền yêu cầu Toà án nhân dân giải quyết.”
 
30. Điều 175 được chuyển thành Điều 176 và sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 176
Khi xét thấy cuộc đình công có nguy cơ nghiêm trọng cho nền kinh tế quốc dân, an toàn công cộng, Thủ tướng Chính phủ quyết định hoãn hoặc ngừng đình công và giao cho cơ quan nhà nước, tổ chức có thẩm quyền giải quyết.
Chính phủ quy định về việc hoãn hoặc ngừng đình công và giải quyết quyền lợi của tập thể lao động.”
 
31. Bổ sung Điều 176a như sau:
“Điều 176a
1. Trong quá trình đình công hoặc trong thời hạn ba tháng kể từ ngày chấm dứt đình công, Ban chấp hành công đoàn có quyền nộp đơn đến Toà án yêu cầu kết luận cuộc đình công hợp pháp, người sử dụng lao động có quyền nộp đơn đến Toà án yêu cầu kết luận tính bất hợp pháp của cuộc đình công.
2. Đơn yêu cầu phải có các nội dung chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm làm đơn yêu cầu;
b) Tên Toà án nhận đơn;
c) Tên, địa chỉ của người yêu cầu;
d) Tên, địa chỉ của Ban chấp hành công đoàn quyết định việc đình công; họ, tên, địa chỉ những người lãnh đạo cuộc đình công;
đ) Tên, địa chỉ của người sử dụng lao động;
e) Tên, địa chỉ của doanh nghiệp, nơi tập thể lao động đình công;
g) Nội dung yêu cầu Toà án giải quyết;
h) Các thông tin khác mà người yêu cầu xét thấy cần thiết cho việc giải quyết;
i) Người có đơn yêu cầu hoặc đại diện có thẩm quyền của họ phải ký tên và đóng dấu.
3. Người yêu cầu phải gửi kèm theo đơn các bản sao bản yêu cầu, bản thông báo về cuộc đình công, quyết định của Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh về việc giải quyết vụ tranh chấp lao động tập thể, tài liệu, chứng cứ và giấy tờ có liên quan đến việc giải quyết cuộc đình công”.
 
32. Bổ sung Điều 176b như sau:
“Điều 176b
Thủ tục nộp đơn, thụ lý đơn, nghĩa vụ cung cấp tài liệu chứng cứ tại Toà án được thực hiện theo thủ tục giải quyết tranh chấp lao động tập thể.”
 
33. Điều 177 sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 177
1. Toà án nhân dân có thẩm quyền kết luận tính hợp pháp của cuộc đình công là Toà lao động Toà án nhân dân cấp tỉnh, nơi xảy ra đình công.
2. Toà Phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định xét tính hợp pháp của cuộc đình công của Toà án nhân dân cấp tỉnh.”
 
34. Bổ sung Điều 177a như sau:
“Điều 177a
1. Hội đồng xét tính hợp pháp của cuộc đình công gồm ba Thẩm phán.
2. Hội đồng giải quyết khiếu nại quyết định xét tính hợp pháp của cuộc đình công gồm ba Thẩm phán.”
 
35. Bổ sung Điều 177b như sau:
“Điều 177b
Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, nhiệm vụ, quyền hạn của người tiến hành tố tụng và việc thay đổi người tiến hành tố tụng thực hiện theo các quy định tại Chương IV Phần thứ nhất của Bộ luật Tố tụng Dân sự.”

36. Bổ sung Điều 177c như sau:

“Điều 177c
1. Ngay sau khi thụ lý đơn yêu cầu, Chánh án Toà án phân công một Thẩm phán chịu trách nhiệm xét đơn yêu cầu xét tính hợp pháp của cuộc đình công.
2. Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu, Thẩm phán được phân công phải ra quyết định:
a) Đưa cuộc đình công ra xét tính hợp pháp;
b) Đình chỉ việc giải quyết cuộc đình công.”
 
37. Bổ sung Điều 177d như sau:
“Điều 177d
1. Toà án đình chỉ việc giải quyết cuộc đình công trong các trường hợp sau đây:
a) Người yêu cầu rút đơn yêu cầu giải quyết;
b) Hai bên đã thoả thuận được với nhau về giải quyết đình công và có đơn yêu cầu Toà án không giải quyết.
2. Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định đình chỉ việc xét tính hợp pháp của cuộc đình công, Toà án phải gửi quyết định cho hai bên”.
 
38. Bổ sung Điều 177đ như sau:
“Điều 177đ
1. Hội đồng xét tính hợp pháp của cuộc đình công do Thẩm phán được phân công chịu trách nhiệm làm chủ toạ.
2. Đại diện có thẩm quyền của hai bên.
3. Đại diện các cơ quan khác theo yêu cầu của Toà án.”
 
39. Bổ sung Điều 177e như sau:
“Điều 177e
1. Phiên họp xét tính hợp pháp của cuộc đình công được hoãn trong các trường hợp vắng mặt một trong hai bên hoặc đại diện có thẩm quyền của họ.
2. Thời hạn tạm hoãn theo đề nghị của hai bên, nhưng không quá ba ngày làm việc.
3. Toà án tiếp tục giải quyết cuộc đình công, nếu một trong hai bên đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt”.

40. Bổ sung Điều 177g như sau:

“Điều 177g
1. Thẩm phán là Chủ toạ Hội đồng trình bày quá trình chuẩn bị và tiến hành của cuộc đình công.
2. Đại diện có thẩm quyền của hai bên trình bày ý kiến của mình.
3. Hội đồng xét tính hợp pháp của cuộc đình công thảo luận và quyết định theo đa số.”
 
41. Điều 178 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 178
1. Khi đã có kết luận của Toà án về cuộc đình công bất hợp pháp mà người lao động không ngừng đình công và không trở lại làm việc, thì tuỳ theo mức độ vi phạm có thể bị xử lý kỷ luật lao động, xử lý vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại vật chất cho doanh nghiệp thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
 2. Người lợi dụng đình công để có hành vi bạo lực, hành vi làm tổn hại máy móc, thiết bị, tài sản của doanh nghiệp; người có hành vi cản trở, kích động, lôi kéo đình công; người có hành vi trù dập, trả thù người tham gia đình công, lãnh đạo cuộc đình công, thì tuỳ theo mức độ vi phạm có thể bị xử lý vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; bồi thường thiệt hại vật chất theo quy định của pháp luật.
 3. Trong quá trình giải quyết đình công, nếu phát hiện người sử dụng lao động có hành vi vi phạm pháp luật lao động, các cơ quan, tổ chức kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.”
 
42. Điều 179 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 179
1. Quyết định của Toà án về việc giải quyết cuộc đình công phải có các nội dung chính sau đây:
a) Kết luận cuộc đình công là hợp pháp hoặc bất hợp pháp. Khi kết luận đình công là bất hợp pháp thì phải nêu rõ trường hợp bất hợp pháp của cuộc đình công;
b) Giải quyết các nội dung bản yêu cầu của tập thể lao động.
Đối với cuộc đình công hợp pháp, Toà án căn cứ vào nội dung yêu cầu của tập thể lao động, tiếp tục tiến hành hoà giải; nếu hai bên thoả thuận được thì Toà án ra quyết định công nhận sự thoả thuận; trường hợp các bên vẫn giữ nguyên yêu cầu của mình, thì tập thể lao động tiếp tục được đình công.
Đối với cuộc đình công bất hợp pháp, tập thể lao động phải ngừng ngay cuộc đình công và trở lại làm việc, chậm nhất là một ngày sau ngày Toà án công bố quyết định.
2. Quyết định của Toà án quy định tại Khoản 1 Điều này phải được công bố và trao cho các bên ngay tại phiên họp giải quyết cuộc đình công và có hiệu lực thi hành ngay. Quyết định của Toà án được gửi cho Viện Kiểm sát nhân dân, Cơ quan thi hành án cùng cấp trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày ra quyết định”.
 
43. Bổ sung Điều 179a như sau:
“Điều 179a
1. Hai bên có trách nhiệm thực hiện nghiêm chỉnh các thoả thuận đã đạt được trong biên bản hoà giải thành, quyết định của Toà án nhân dân về giải quyết tranh chấp lao động và  đình công. Bên có nghĩa vụ thi hành mà không tự nguyện thi hành thì bị cưỡng chế theo quy định của pháp luật.
2. Người nào cản trở hoặc cố tình không thi hành quyết định của Toà án về giải quyết tranh chấp lao động và đình công thì tuỳ thuộc vào tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xử lý vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.”
 
Điều 2. Luật này có hiệu lực kể từ ngày.........tháng........năm...... và thay thế các quy định của Chương XIV Bộ luật lao động đã được sửa đổi, bổ sung năm 2002.
 
Điều 3. Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao trong phạm vi nhiệm vụ, thẩm quyền của mình quy định chi tiết thi hành Luật này.
 
Luật này được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khoá XI, kỳ họp thứ     thông qua ngày    tháng     năm       . 

CHỦ TỊCH QUỐC HỘI

Lĩnh vực liên quan

Phiên bản 1

Tờ trình

Ngày nhập

02/06/2006

Đã xem

904 lượt xem

Dự thảo dạng .DOC

Ngày nhập

02/06/2006

Đã xem

904 lượt xem

Báo cáo thẩm tra

Ngày nhập

02/06/2006

Đã xem

904 lượt xem

Thông tin tài liệu

Số lượng file 3

Cơ quan soạn thảo Bộ Lao động Thương binh và Xã hội

Loại tài liệu Luật

Đăng nhập để theo dõi dự thảo

Ý kiến của VCCI

  • Hiện tại, VCCI chưa có ý kiến về văn bản này. Vui lòng đăng ký theo dõi dự thảo để nhận thông tin khi VCCI có ý kiến.

Ý kiến về dự thảo ( 0 ý kiến )

Văn bản vui lòng gửi tới địa chỉ ( có thể gửi qua fax hoắc email):
Ban pháp chế VCCI - số 9 Đào Duy Anh, Đống Đa, Hà Nội.
Điện thoại: 024 3577 0632 / 024 3577 2002 - số máy lẻ : 355. Fax: 024 3577 1459.
Email: xdphapluat@vcci.com.vn / xdphapluat.vcci@gmail.com