Góp ý Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định 14/2018/NĐ-CP quy định về hoạt động thương mại biên giới
Tổng hợp góp ý Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Bảo vệ môi trường
Kính gửi: Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội
Ngày 31/7/2026, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp với Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội thảo lấy ý kiến về Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường. Trên cơ sở ý kiến của các doanh nghiệp, hiệp hội, VCCI xin tổng hợp như sau:
- Miễn thủ tục điều chỉnh, cấp lại Giấy phép môi trường đối với các cải tiến kỹ thuật tối ưu hóa hệ thống xử lý chất thải
Thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh cho thấy các doanh nghiệp thường xuyên chủ động thực hiện các giải pháp cải tiến kỹ thuật và đổi mới công nghệ nhằm tối ưu hóa vận hành hệ thống xử lý chất thải, nâng cao hơn nữa hiệu quả bảo vệ môi trường. Những cải tiến này xuất phát từ tinh thần chủ động trách nhiệm của doanh nghiệp, nhằm mục đích nâng cao chất lượng xử lý, hoàn toàn không làm tăng lưu lượng xả thải hay tải lượng chất ô nhiễm và không gia tăng bất kỳ rủi ro môi trường nào so với Giấy phép môi trường đã được cấp. Tuy nhiên, quy định tại Điều 30, 44 Luật Bảo vệ môi trường 2020 và Dự thảo chưa phân định rõ ràng ranh giới cho trường hợp này. Hệ quả các thay đổi mang tính tích cực của doanh nghiệp vẫn có nguy cơ bị xếp vào trường hợp thay đổi nội dung cấp phép, buộc doanh nghiệp phải thực hiện thủ tục điều chỉnh hoặc cấp lại Giấy phép môi trường – thực tế việc thực hiện thủ tục này là rất phức tạp, tốn kém thời gian và chi phí đối với doanh nghiệp.
Nhằm thực hiện chủ trương của Chính phủ về việc giảm tiền kiểm, tăng cường hậu kiểm, cắt giảm gánh nặng chi phí tuân thủ và khuyến khích doanh nghiệp đổi mới công nghệ, đề nghị sửa đổi quy định tại Điều 44 Luật Bảo vệ môi trường 2020 theo hướng: Không yêu cầu thực hiện thủ tục điều chỉnh hoặc cấp lại Giấy phép môi trường đối với các cải tiến kỹ thuật tối ưu hóa vận hành, nâng cao hiệu quả xử lý chất thải mà không làm gia tăng lưu lượng xả thải, tải lượng ô nhiễm và rủi ro môi trường; thay vào đó, doanh nghiệp chỉ cần thực hiện việc cập nhật thông tin gửi cơ quan quản lý nhà nước về môi trường để theo dõi, quản lý.
- Quản lý nước thải trong khu/cụm công nghiệp
Điều 53.1.a Luật Bảo vệ môi trường 2020 bắt buộc tất cả doanh nghiệp trong khu công nghiệp phải đấu nối nước thải qua trạm xử lý tập trung. Quy trình này hiện yêu cầu tiến hành theo hai bước: (1) Doanh nghiệp phải đầu tư xử lý nội bộ đạt Cột B; (2) Trạm xử lý nước thải khu công nghiệp tiếp tục xử lý từ Cột B lên Cột A.
Theo phản ánh của doanh nghiệp, đơn giá dịch vụ cho bước 2 rất cao. Với nhiều doanh nghiệp trong ngành thủy hải sản, tổng chi phí xử lý kép lên tới 21.000 – 23.500 VNĐ/m³, gấp 2 đến 2,1 lần so với việc doanh nghiệp tự đầu tư xử lý trực tiếp đạt thẳng Cột A (chỉ khoảng 10.000 – 12.000 VNĐ/m³). Như vậy, với các ngành có lưu lượng xả thải lớn như chế biến thủy sản với khoảng 700 nhà máy trong khu công nghiệp, quy định bắt buộc này gây lãng phí chi phí tuân thủ lên tới gần 200 tỷ VNĐ/tháng trên toàn quốc.
Do vậy, đề nghị bổ sung quy định cho phép doanh nghiệp có đặc tính nước thải hữu cơ dễ phân hủy sinh học được quyền lựa chọn: Đấu nối với khu xử lý nước thải tập trung của khu công nghiệp, hoặc tự đầu tư hệ thống xử lý đạt Cột A và xả thẳng ra nguồn tiếp nhận. Trường hợp doanh nghiệp tự đầu tư, quy định bổ sung các yêu cầu đi kèm như bắt buộc trang bị hệ thống quan trắc tự động liên tục kết nối 24/7 về cơ quan quản lý để giám sát chặt chẽ trách nhiệm của doanh nghiệp.
- Khuyến khích tái sử dụng nước thải sau xử lý
Luật Bảo vệ môi trường 2020 xây dựng với định hướng tiến bộ coi chất thải là tài nguyên, thúc đẩy việc sử dụng hiệu quả tài nguyên nước và phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn. Tuy nhiên, khung pháp lý hiện hành về quản lý chất thải và nước thải sau xử lý vẫn còn mang nặng tư duy quản lý rủi ro xả thải thụ động, chưa tạo được hành lang pháp lý đủ linh hoạt để khuyến khích doanh nghiệp tái sử dụng nước sau xử lý, hoặc chuyển giao chất thải làm nguyên liệu đầu vào cho các chuỗi sản xuất khác. Từ thực tiễn hoạt động của các doanh nghiệp cho thấy việc tái sử dụng nước thải sau xử lý đạt quy chuẩn cho các mục đích phụ trợ nội bộ hoặc phục vụ sản xuất giúp tiết kiệm đáng kể nguồn nước sạch nguyên liệu và giảm thiểu tải lượng xả thải ra môi trường tiếp nhận.
Do đó, đề nghị bổ sung quy định cụ thể tại Điều 72 Luật theo hướng thể chế hóa cơ chế khuyến khích tái sử dụng nước thải sau xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường; đồng thời quy định rõ các hoạt động tái sử dụng nước hoặc tuần hoàn chất thải trong nội bộ cơ sở không bị coi là hành vi xả thải ra môi trường và doanh nghiệp được chủ động thực hiện mà không bắt buộc phải làm thủ tục xin phép hay điều chỉnh Giấy phép môi trường.
- Quy định về bảo vệ môi trường nước mặt
Dự thảo sửa đổi khoản 2 Điều 7 theo hướng nguồn thải vào môi trường nước mặt phải được quản lý phù hợp với mục đích sử dụng, chức năng nguồn nước và khả năng chịu tải. Đối với nguồn nước không còn khả năng chịu tải, dự án mới hoặc mở rộng về nguyên tắc không được xả trực tiếp, trừ một số trường hợp xử lý đạt yêu cầu nghiêm ngặt, tuần hoàn, tái sử dụng nước hoặc thực hiện dự án cải tạo môi trường. Doanh nghiệp cho rằng hướng tiếp cận này là hợp lý nhưng cần linh hoạt, chính xác hơn theo sức chịu tải của từng nguồn nước.
Hiện nay, quản lý nước thải chủ yếu dựa trên nồng độ các thông số tại đầu ra, nhưng tác động đối với nguồn tiếp nhận còn phụ thuộc vào lưu lượng và tổng tải lượng ô nhiễm. Hai cơ sở cùng đạt một mức nồng độ nhưng cơ sở đó có lưu lượng xả lớn hơn sẽ tạo ra tải lượng ô nhiễm lớn hơn rất nhiều. Kinh nghiệm của Hoa Kỳ về tổng tải lượng ô nhiễm tối đa cho phép và kinh nghiệm quản lý lưu vực của Liên minh Châu Âu cho thấy cần xác định tổng tải lượng mà từng đoạn sông hoặc hồ có thể tiếp nhận, sau đó phân bổ cho các nguồn thải.
Để đảm bảo tính hợp lý vừa đảm bảo mục tiêu bảo vệ môi trường vừa tạo điều kiện cho sản xuất, đề nghị điều chỉnh Điều 7 Dự thảo theo hướng kiểm soát xả nước thải theo cả nồng độ và tải lượng chất ô nhiễm, phù hợp với chức năng và khả năng chịu tải của nguồn nước, trong đó:
– Khả năng chịu tải phải được đánh giá theo từng thông số, ví dụ: một nguồn nước có thể đã quá tải về nitơ hoặc phospho nhưng vẫn còn khả năng tiếp nhận đối với thông số khác. Do đó, không nên chỉ phân loại đơn giản thành “còn” hoặc “không còn” khả năng chịu tải;
– Tính đến sự khác biệt giữa mùa mưa, mùa khô, thời kỳ hạn hán, triều cường và chế độ vận hành hồ chứa. Giấy phép môi trường nên quy định lưu lượng và tải lượng xả theo mùa, đồng thời yêu cầu giảm xả hoặc tăng tuần hoàn nước khi nguồn tiếp nhận suy giảm;
– Kết quả đánh giá khả năng chịu tải, tổng tải lượng đã phân bổ và phần tải lượng còn lại phải được công khai. Chỉ nên thí điểm giao dịch tải lượng ô nhiễm khi có dữ liệu tin cậy, quan trắc tự động và cơ chế kiểm tra độc lập.
- Duy trì hình thức đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ Môi trường
Điều 54 Dự thảo đang sửa đổi theo hướng loại bỏ hình thức đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam để hỗ trợ tái chế, chỉ giữ lại các hình thức tự tổ chức thu hồi, tái chế hoặc thuê/ủy quyền bên thứ ba. Việc tiến dần đến yêu cầu doanh nghiệp phải thực chất thu hồi, tái chế là xu hướng đúng đắn, nhưng theo phản ánh của doanh nghiệp, việc yêu cầu như vậy ở thời điểm này là cần cân nhắc đến tính khả thi do hạ tầng thu gom phế liệu tại Việt Nam hiện nay chủ yếu là tự phát, chưa đồng bộ. Các doanh nghiệp thương mại và nhập khẩu không có sẵn nhà xưởng hay hạ tầng thu gom phủ rộng. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa khó có thể xây dựng hệ thống thu hồi. Mặt khác, ngành công nghiệp tái chế trong nước đối với các sản phẩm đặc thù như pin Lithium, pin Nickel hay thiết bị lạnh thương mại chứa môi chất lạnh chuyên dụng hiện chưa đủ cơ sở đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật môi trường. Các cơ sở hạ tầng này cần thời gian để đầu tư, vận hành như một hệ thống hoàn chỉnh. Do vậy, đề nghị:
– Tiếp tục giữ nguyên hình thức đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam như một lựa chọn song song hợp lệ bên cạnh các hình thức tự tái chế, thuê hoặc ủy quyền. Nhà nước có thể cân nhắc chính sách giảm dần tỷ lệ đóng góp tài chính theo lộ trình nhằm thúc đẩy các hoạt động thu gom/tái chế của doanh nghiệp cũng như xây dựng hệ sinh thái ngành công nghiệp tái chế tại Việt Nam.
– Mức trách nhiệm tái chế phải được điều chỉnh theo thiết kế sản phẩm: sản phẩm bền, dễ sửa chữa, dễ tháo rời, có tỷ lệ vật liệu tái chế cao phải có nghĩa vụ thấp hơn sản phẩm khó tái chế, chứa vật liệu hỗn hợp hoặc chất nguy hại. Đây là cơ chế phí EPR điều biến đang được nhiều nước áp dụng để thúc đẩy thiết kế sinh thái;
– Kết quả tái chế phải tính trên lượng vật liệu thực sự được thu hồi, không phải toàn bộ lượng chất thải đưa vào nhà máy. Cần kiểm soát hao hụt, chất lượng vật liệu đầu ra và việc xử lý phần cặn còn lại;
– Cần công nhận và từng bước chính thức hóa lượng thu gom phi chính thức, thông qua mạng lưới ve chai và nhiều tổ chức, cá nhân trước khi đến nhà máy. Đây là nguồn lực đang hoạt động hiệu quả, không nên bị loại bỏ khỏi hệ thống bằng thủ tục quá phức tạp;
– Kinh tế tuần hoàn không nên chỉ tập trung vào tái chế, thứ tự ưu tiên phải là giảm phát sinh, kéo dài tuổi thọ, tái sử dụng, tân trang, tái sản xuất, sau đó mới đến tái chế và thu hồi năng lượng. Dự thảo Nghị định đã nhận diện được các hình thức này nhưng các nguyên tắc cơ bản nên được thể hiện rõ hơn trong Dự thảo Luật.
6. Ghi nhận mô hình tái chế trong chu trình khép kín có công đoạn thực hiện tại nước ngoài
Điều 54 Luật Bảo vệ môi trường 2020 quy định về trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì hướng tới mục tiêu thúc đẩy các chu trình tái chế khép kín nhằm tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên. Tuy nhiên, thực tiễn từ hoạt động sản xuất công nghiệp kỹ thuật cao cho thấy Việt Nam hiện vẫn chưa phát triển đầy đủ năng lực hạ tầng công nghệ và dây chuyền xử lý chuyên sâu để thực hiện trọn vẹn toàn bộ các công đoạn của một chu trình tái chế khép kín đối với một số loại vật liệu phức tạp (như hợp kim đặc thù, linh kiện điện tử tinh vi hay các môi chất lạnh). Nếu pháp luật quy định cứng nhắc bắt buộc tất cả các công đoạn trong chuỗi tái chế phải thực hiện 100% trong nước sẽ vô hình trung tạo ra rào cản kỹ thuật vượt quá năng lực đáp ứng của hạ tầng công nghiệp nội địa hiện tại, gây khó khăn cho các doanh nghiệp có mong muốn áp dụng công nghệ tái chế tiên tiến.
Để khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào mô hình tái chế chất lượng cao, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn phát triển thực chất và nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên quốc gia, đề nghị bổ sung quy định tại Điều 54 theo hướng ghi nhận tính hợp pháp của mô hình tái chế khép kín xuyên biên giới. Theo đó, cho phép doanh nghiệp được chủ động thực hiện một số công đoạn tái chế đòi hỏi công nghệ cao tại các cơ sở xử lý ở nước ngoài, sau đó nguyên liệu hoặc vật liệu đã qua tái chế được phép tái nhập khẩu trở lại Việt Nam để tiếp tục đưa vào quy trình sản xuất sản phẩm mới. Cơ chế này sẽ được áp dụng trên cơ sở doanh nghiệp đáp ứng đầy đủ các điều kiện nghiêm ngặt về truy xuất nguồn gốc nguyên liệu, kiểm soát chính xác khối lượng xuất – nhập và tuân thủ toàn diện các quy định của pháp luật môi trường, thương mại Việt Nam cũng như các ước quốc tế có liên quan.
7. Cơ chế bù trừ nghĩa vụ tái chế giữa các sản phẩm cùng danh mục
Theo phản ánh của các doanh nghiệp, thực tiễn triển khai với nhóm sản phẩm điện, điện tử, tỷ lệ thu gom thực tế giữa các dòng sản phẩm có sự chênh lệch rất lớn. Nguyên nhân xuất phát từ tính đặc thù của sản phẩm và điều kiện thị trường. Một số sản phẩm điện tử quy mô nhỏ như điện thoại di động, máy tính bảng … hiện có tỷ lệ thu gom qua kênh chính thức ở mức rất thấp do đặc thù tâm lý người tiêu dùng coi đây là tài sản có giá trị cao, thường giữ lại lưu trữ tại gia đình hoặc chuyển nhượng qua thị trường phi chính thức. Tại Việt Nam, khu vực thu gom tự phát, phi chính thức vẫn chiếm thị phần đáng kể và nắm giữ nhiều ưu thế linh hoạt trong việc tiếp cận, thu hồi các sản phẩm đã qua sử dụng này. Bên cạnh đó, hạ tầng và dịch vụ thu gom để tái chế sản phẩm điện tử trong nước vẫn chưa phát triển tương xứng. Tính đến thời điểm hiện tại, Việt Nam mới chỉ có duy nhất 01 Tổ chức Tái chế (PRO) vận hành chính thức đối với ngành điện tử dựa trên tinh thần tự nguyện đồng hành từ phía nhà sản xuất và nhà nhập khẩu, chưa đủ khả năng bao phủ toàn bộ mạng lưới thu gom rộng khắp.
Kinh nghiệm quản lý EPR tại các quốc gia trong khu vực và trên thế giới như Singapore và Hàn Quốc đều cho phép áp dụng cơ chế bù trừ khối lượng hoặc tỷ lệ tái chế giữa các mã sản phẩm thuộc cùng một danh mục thiết bị điện, điện tử. Việc áp dụng cơ chế này giúp định hướng chính sách tập trung vào mục tiêu cốt lõi là đạt được tổng lượng thu hồi và tái chế chất thải điện tử chung cho toàn nền kinh tế, đồng thời tạo sự linh hoạt trong quá trình tuân thủ và bảo đảm tính phù hợp với đặc thù kinh doanh của từng dòng sản phẩm.
Do đó, đề nghị bổ sung quy định cho phép các nhà sản xuất, nhập khẩu được thực hiện cơ chế bù trừ nghĩa vụ tái chế giữa các sản phẩm trong cùng một nhóm danh mục hàng hóa khi xác định kết quả hoàn thành trách nhiệm EPR.
- Luật hóa trách nhiệm thải bỏ phương tiện giao thông của người sử dụng cuối cùng và xây dựng cơ chế thu hồi liên ngành
Theo phản ánh của doanh nghiệp, việc thực hiện trách nhiệm EPR với nhóm sản phẩm phương tiện giao thông đường bộ có sự khác biệt mang tính căn bản so với các nhóm sản phẩm tiêu dùng thông thường do phương tiện thuộc tài sản có giá trị và thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người sử dụng cuối cùng. Nếu quy định pháp luật hiện hành chỉ tập trung áp đặt nghĩa vụ thu hồi, tái chế đối với nhà sản xuất, nhập khẩu mà chưa luật hóa trách nhiệm của chủ sở hữu khi thải bỏ phương tiện thì chuỗi tuần hoàn EPR sẽ bị đứt gãy, khiến nhà sản xuất hoàn toàn không có khả năng tiếp cận phương tiện cũ nát hoặc hết niên hạn để thực hiện hoạt động tái chế. Các doanh nghiệp đề nghị bổ sung quy định luật hóa trách nhiệm thải bỏ phương tiện giao thông của người sử dụng cuối cùng, đồng thời thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành trong công tác thu hồi phương tiện thải bỏ, cụ thể:
– Xây dựng cơ chế liên kết giữa quản lý phương tiện và hoạt động thu hồi, tái chế: thủ tục thu hồi và hủy đăng ký xe (deregistration) đối với các phương tiện cũ nát, hết niên hạn sử dụng chỉ được hoàn tất sau khi chủ phương tiện xuất trình chứng nhận đã bàn giao xe cho các điểm thu hồi được ủy quyền của nhà sản xuất, nhà nhập khẩu hoặc các cơ sở tái chế được cấp phép hợp pháp.
– Cơ chế khuyến khích kinh tế với chủ phương tiện: áp dụng các chính sách khuyến khích kinh tế thiết thực như hỗ trợ tài chính trực tiếp hoặc ưu đãi giảm thuế, phí trước bạ khi mua phương tiện mới dành cho các chủ sở hữu tự nguyện thải bỏ phương tiện đúng quy trình tại các điểm thu hồi chính thức, qua đó tạo động lực thúc đẩy người dân chủ động đưa phương tiện hết niên hạn vào chuỗi tái chế chính thức.
- Cơ chế chuyển tiếp thực hiện tỷ lệ tái chế với nhóm phương tiện giao thông và pin lithium, pin nickel
Theo phản ánh của doanh nghiệp, thực tế hiện nay cho thấy hạ tầng công nghệ tái chế đạt tiêu chuẩn môi trường đối với phương tiện giao thông đường bộ cũng như các loại pin thế hệ mới (như Pin Lithium, Pin Nickel) tại Việt Nam đang rơi vào tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng. Mặc dù Dự thảo Luật hiện tại đã có quy định cho phép tổ chức, cá nhân chưa đáp ứng tỷ lệ tái chế bắt buộc được chuyển nghĩa vụ thực hiện sang các năm tiếp theo, tuy nhiên việc thu hồi và tái chế phương tiện giao thông cùng các loại pin chuyên dụng phụ thuộc hoàn toàn vào sự sẵn sàng của hạ tầng kỹ thuật và năng lực vận hành của các tổ chức PRO. Trước tình hình này, việc bổ sung quy định cho phép khoảng thời gian chuyển tiếp hợp lý là hoàn toàn cần thiết, không nhằm mục đích kéo dài hay né tránh nghĩa vụ EPR của doanh nghiệp, mà là giải pháp thực tế nhằm tạo khoảng thời gian đệm cần thiết để các nhà sản xuất, đơn vị PRO và các cơ sở tái chế tập trung đầu tư hạ tầng, ký kết hợp tác, hoàn thiện mạng lưới thu hồi và đưa hệ thống vận hành ổn định trước khi chính thức chuyển sang hình thức tự tái chế trực tiếp.
Do vậy, đề nghị bổ sung điều khoản chuyển tiếp riêng cho nhóm sản phẩm phương tiện giao thông và các loại pin chuyên dụng sử dụng cho phương tiện. Theo đó, cho phép các nhà sản xuất, nhập khẩu được tiếp tục lựa chọn thực hiện nghĩa vụ EPR thông qua hình thức đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam, và chỉ chính thức bãi bỏ hình thức đóng góp tài chính này sau tối thiểu 02 (hai) năm kể từ khi đáp ứng được một trong hai điều kiện: hoặc (i) đã có cơ sở tái chế phương tiện giao thông và Pin Lithium, Pin Nickel đạt chuẩn môi trường đi vào hoạt động chính thức với đủ công suất đáp ứng nhu cầu tái chế của doanh nghiệp; hoặc (ii) đã có Tổ chức thực hiện trách nhiệm tái chế (PRO) được cấp phép trong lĩnh vực phương tiện giao thông đường bộ thành lập và vận hành hiệu quả theo quy định.
- Đóng góp tài chính hỗ trợ xử lý chất thải
Điều 55.1 Dự thảo Luật quy định loại trừ sản phẩm, bao bì thuộc Danh mục chịu thuế bảo vệ môi trường ra khỏi đối tượng phải đóng góp tài chính. Quy định này có bản chất hợp lý ở chỗ đảm bảo không đánh trùng một sản phẩm cho nhiều nghĩa vụ tài chính. Đồng thời, quy định này đã khác hơn chút so với phiên bản trước khi bỏ quy định “giao Chính phủ quy định lộ trình chuyển sản phẩm, bao bì hiện đang đóng góp tài chính sang đối tượng chịu thuế bảo vệ môi trường”. Tuy nhiên, cộng đồng doanh nghiệp vẫn lo ngại rằng có thể trường hợp sau này các sản phẩm, bao bì sẽ bổ sung vào thuế bảo vệ môi trường. Theo phản ánh của các doanh nghiệp, thuế về bản chất là khoản thu ngân sách nhà nước, sẽ được hòa chung vào tổng ngân sách và đáp ứng nhu cầu chi tiêu, vận hành của Nhà nước nói chung, rất khó tách biệt ra cho riêng mục tiêu bảo vệ môi trường. Trong khi đó, nếu vận hành dưới khoản đóng góp tài chính hỗ trợ xử lý chất thải như quy định hiện hành, nguồn lực được trích riêng để phục vụ mục đích hỗ trợ các tổ chức, cá nhân thực hiện các hoạt động cải thiện tình trạng ô nhiễm môi trường theo nguyên tắc 3R (giảm thiểu – tái sử dụng – tái chế). Hai loại nguồn thu này khác nhau về bản chất, mục đích sử dụng và cơ chế quản lý; việc chuyển đổi một cách cơ học từ đóng góp tài chính sang thuế bảo vệ môi trường có nguy cơ làm mất đi tính chất “hoàn trả” phục vụ trực tiếp cho công tác bảo vệ môi trường của nguồn kinh phí này.
Đồng thời, trường hợp chuyển từ đóng góp tài chính sang thuế cũng sẽ ảnh hưởng đến cơ cấu giá thành sản phẩm, làm suy giảm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Cụ thể, khoản đóng góp tài chính hiện tại chỉ là nghĩa vụ của doanh nghiệp và doanh nghiệp có quyền quyết định phần giá thành tăng thêm để bù đắp khoản chi phí này. Tuy nhiên, việc áp dụng cơ chế thuế bảo vệ môi trường sẽ làm tăng giá sản phẩm mà khách hàng phải trả, dẫn đến giảm tính cạnh tranh của hàng hóa, đặc biệt với các mặt hàng có mức độ cạnh tranh cao và nhạy cảm về giá.
Do vậy, đề nghị giữ nguyên bản chất là khoản đóng góp tài chính (Quỹ) thay vì chuyển thành Thuế bảo vệ môi trường đối với các sản phẩm có chứa chất độc hại, khó có khả năng tái chế hoặc gây khó khăn để đảm bảo dòng tiền được dùng đúng mục tiêu môi trường.
- Xử lý tồn đọng và bổ sung quy định chuyển tiếp với kinh phí EPR đã nộp
Theo phản ánh của doanh nghiệp, nhiều doanh nghiệp đã nghiêm túc thực hiện nghĩa vụ đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường từ năm 2022 đến nay, nhưng nguồn kinh phí này vẫn chưa được giải ngân hỗ trợ thực tế cho các hoạt động tái chế, xử lý chất thải. Do vậy, đề nghị bổ sung ngay điều khoản chuyển tiếp cụ thể trong Dự thảo để xử lý triệt để số tiền tồn đọng này, có thể cân nhắc các phương án sau:
– Phương án 1: Hoàn trả cho doanh nghiệp hoặc cho phép khấu trừ vào nghĩa vụ đóng góp tài chính trong các kỳ tiếp theo.
– Phương án 2: Ban hành lộ trình giải ngân ưu tiên công khai trong thời hạn tối đa 24 tháng kể từ khi Luật sửa đổi có hiệu lực.
– Phương án 3: Quy đổi phần kinh phí đã nộp chưa giải ngân để khấu trừ vào chi phí thực tế phát sinh khi doanh nghiệp chuyển sang tự tổ chức thực hiện tái chế.
- Định nghĩa hạn ngạch khí nhà kính và tín chỉ carbon từ góc nhìn kinh tế
Điều 3.33 và 3.35 Dự thảo quy định về định nghĩa của hạn ngạch khí nhà kính và tín chỉ carbon dưới góc độ chuyên môn – kỹ thuật quản lý môi trường thuần túy, mà chưa thể hiện bản chất kinh tế và giá trị tài sản thương mại của các công cụ này. Trong một thị trường các-bon vận hành theo nguyên tắc thương mại, chính động lực và lợi ích kinh tế mới là yếu tố then chốt khuyến khích các cơ sở chủ động đầu tư công nghệ cắt giảm phát thải hoặc tài trợ cho các dự án xanh. Do đó, việc tái thiết kế các định nghĩa pháp lý theo hướng làm rõ thuộc tính tài sản và tạo hành lang giao dịch linh hoạt là điều kiện tiên quyết để thị trường các-bon Việt Nam vận hành hiệu quả và tiệm cận với thông lệ quốc tế. Cụ thể:
Về định nghĩa hạn ngạch khí nhà kính, Điều 3.33 Dự thảo chỉ xác định hạn ngạch là “lượng khí nhà kính được phép phát thải” là chưa thể hiện hết bản chất pháp lý phức tạp của hạn ngạch như một công cụ chính sách có giá trị tài sản. Nhằm bảo đảm sự hài hòa tối ưu giữa việc bảo vệ quyền công của Nhà nước trong thực hiện cam kết đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) và việc tạo lập hành lang pháp lý an toàn cho các giao dịch kinh tế, đề nghị cân nhắc định nghĩa hạn ngạch phát thải theo hướng ghi nhận đây là một “quyền tài sản có điều kiện”. Theo cơ chế này, Nhà nước cho phép cơ sở có quyền tài sản hạn chế, theo nguyên tắc chỉ được thực hiện các quyền kinh tế trong phạm vi pháp luật cho phép. Quy định này, một mặt sẽ đảm bảo quyền tài sản của hạn ngạch, giúp sản phẩm này có giá trị kinh tế, đồng thời vẫn đảm bảo quyền lực công tối cao của Nhà nước trong việc thực hiện mục tiêu giảm phát thải.
Về định nghĩa tín chỉ carbon, Điều 3.35 Dự thảo quy định “chủ thể nắm giữ (tín chỉ các-bon) trao đổi, chuyển nhượng hoặc sử dụng trong phạm vi và điều kiện do pháp luật quy định”. Cách thiết kế này phản ánh tư duy quản lý “chọn – cho” (chỉ được làm những gì pháp luật cho phép/quy định cụ thể). Cách tiếp cận này vô hình trung tạo ra rào cản hành chính, thu hẹp phạm vi giao dịch, làm giảm tính thanh khoản và hạn chế tiềm năng thương mại hóa tài sản các-bon. Khác với hạn ngạch phát thải do Nhà nước phân bổ, tín chỉ các-bon chủ yếu được hình thành từ nguồn lực đầu tư xã hội hóa của doanh nghiệp thông qua các dự án giảm phát thải hoặc hấp thụ các-bon. Do đó, để giải phóng nguồn lực xã hội, đề nghị chuyển sang tiếp cận theo hướng được làm những gì pháp luật không cấm, bằng cách ghi nhận tín chỉ các-bon là một “quyền tài sản” trọn vẹn theo quy định của Bộ luật Dân sự. Theo đó, chủ thể sở hữu hợp pháp tín chỉ các-bon đương nhiên có đầy đủ các quyền tài sản, trừ các trường hợp pháp luật có quy định hạn chế cụ thể (như kiểm soát chuyển nhượng xuyên biên giới theo Điều 6 Thỏa thuận Paris để bảo vệ NDC quốc gia).
Ngoài ra, định nghĩa tín chỉ các-bon tại Điều 3.35 chỉ quy định ghi nhận tín chỉ phát sinh từ “hoạt động giảm phát thải khí nhà kính” là chưa bao quát hết bản chất khoa học và thực tiễn vận hành của thị trường quốc tế. Trong thực tế, tín chỉ các-bon không chỉ được tạo ra từ việc giảm nguồn phát thải (mitigation/reduction) mà còn được tạo ra với tỷ trọng rất lớn từ các hoạt động tăng cường hấp thụ, loại bỏ và lưu trữ các-bon (carbon removal/sequestration) như trồng rừng, bảo vệ rừng, phát triển hệ sinh thái biển (các-bon xanh), nông nghiệp phát thải thấp, hoặc áp dụng các công nghệ thu giữ, sử dụng và lưu trữ các-bon (CCUS). Do vậy, đề nghị bổ sung thêm phạm vi để bao quát các trường hợp trên thực tế.
- Tần suất kiểm kê khí nhà kính cấp cơ sở
Điều 91.2 Dự thảo sửa đổi theo hướng rút ngắn chu kỳ kiểm kê khí nhà kính cấp cơ sở từ 2 năm/lần xuống hằng năm. Quy định này là chưa hợp lý, bởi vì nhiều doanh nghiệp trong Danh mục cơ sở phát thải khí nhà kính ở Việt Nam là các cơ sở lắp rắp, sản xuất công nghiệp nhẹ, có hoạt động sản xuất ổn định nên hệ số phát thải không biến động đột biến theo năm. Việc tăng tần suất kiểm kê sẽ phát sinh thêm chi phí và thời gian cho doanh nghiệp như chi phí thuê đơn vị thẩm định độc lập. Kinh nghiệm khu vực ASEAN và các nước đang phát triển như Ấn Độ mà doanh nghiệp tổng hợp đều cho thấy chu kỳ kiểm kê cấp cơ sở thường linh hoạt từ 2 – 3 năm. Do vậy, để phù hợp với thực tiễn Việt Nam và giảm gánh nặng chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp, đề nghị giữ nguyên tần suất kiểm kê là 2 năm
- Sơ hủy chất thải tại nguồn (Điều 72)
Điều 72 Luật Bảo vệ môi trường 2020 quy định về yêu cầu quản lý chất thải, trong đó yêu cầu thực hiện các hoạt động với chất thải phát sinh gồm phân loại, sơ chế, tái sử dụng, tái chế, xử lý, thu hồi năng lượng hoặc chuyển giao. Theo phản ánh của doanh nghiệp, ngoài các hoạt động trên, doanh nghiệp cần thực hiện một hoạt động có tên là “sơ hủy” tại nguồn. Thực tế, tại các nhà máy sản xuất, nhiều máy móc, thiết bị thải bỏ chứa linh kiện mang bí mật công nghệ hoặc dính chút dầu mỡ/chất nguy hại nhẹ. Nếu không được “sơ hủy” (tháo dỡ, cắt nhỏ) tại chỗ mà chuyển toàn bộ khối lượng lớn sang lò đốt/đơn vị xử lý nguy hại sẽ gây hư hỏng thiết bị đốt công nghiệp (do chứa kim loại lớn), tăng chi phí vận chuyển, tăng rủi ro rò rỉ ô nhiễm trên đường vận chuyển và lộ bí mật kinh doanh.
Do vậy, đề nghị bổ sung cụm từ “sơ hủy” vào Điều 72.1.b Luật Bảo vệ môi trường 2020 như một bước quản lý chất thải hợp pháp tại nguồn.
- Nghĩa vụ cập nhật dữ liệu chất thải
Điều 72.4 Dự thảo yêu cầu các tổ chức, cá nhân phát sinh chất thải phải thực hiện cập nhật thông tin, dữ liệu chất thải vào hệ thống Cơ sở dữ liệu môi trường quốc gia. Đồng thời, Điều 72.4a lại tiếp tục đặt ra yêu cầu đối với các cơ sở thực hiện dịch vụ thu gom, vận chuyển, tái chế và xử lý chất thải cũng phải cập nhật thông tin, dữ liệu về chất thải tiếp nhận và xử lý vào hệ thống này. Quy định song song hai chiều như trên dẫn đến nguy cơ trùng lặp về nghĩa vụ kê khai, báo cáo hành chính giữa chủ nguồn thải và đơn vị xử lý đối với cùng một lượng chất thải phát sinh, làm gia tăng khối lượng thủ tục hành chính không cần thiết, gây mất thời gian và tăng chi phí vận hành cho cả hai bên.
Do đó, đề nghị rà soát, điều chỉnh quy định theo hướng đơn giản hóa thủ tục, chỉ cần quy định nghĩa vụ kê khai, cập nhật dữ liệu từ một đầu (hoặc từ phía chủ nguồn thải, hoặc từ đơn vị thu gom/xử lý chất thải).
- Chuyển giao nhiệm vụ đánh giá, chứng nhận Nhãn sinh thái Việt Nam cho các tổ chức đánh giá sự phù hợp độc lập
Điều 145 Luật Bảo vệ môi trường 2020 hiện giao cho cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành về bảo vệ môi trường trực tiếp thực hiện việc tiếp nhận hồ sơ, đánh giá và cấp chứng nhận Nhãn sinh thái Việt Nam. Cơ chế cấp chứng nhận bởi cơ quan nhà nước có ưu điểm là đảm bảo sự thống nhất trong hoạt động cấp giấy chứng nhận. Tuy nhiên, việc cấp chứng nhận dưới dạng một thủ tục hành chính cũng có phần chưa phù hợp do làm tăng số lượng thủ tục hành chính, gánh nặng lên bộ máy nhà nước và giảm tính năng động trong hoạt động đánh giá, trong khi chủ yếu việc đánh giá nhãn sinh thái dựa vào các tiêu chuẩn kỹ thuật.
Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế tại các quốc gia và khu vực phát triển cho thấy xu hướng chung là giảm thiểu sự can thiệp trực tiếp của bộ máy hành chính nhà nước vào khâu thẩm định kỹ thuật, chuyển sang phân quyền hoặc ủy quyền cho các tổ chức đánh giá sự phù hợp độc lập. Tại Nhật Bản, Chương trình Nhãn sinh thái (Eco Mark Program) do Hiệp hội Môi trường Nhật Bản (JEA) – một tổ chức vì lợi ích công cộng độc lập – trực tiếp quản lý, vận hành và cấp phép với sự hỗ trợ về chính sách từ Chính phủ.[1] Tại Úc, Nhãn sinh thái GECA được quản lý và vận hành hoàn toàn độc lập bởi Tổ chức phi lợi nhuận GECA (Good Environmental Choice Australia).[2] Tại Hoa Kỳ, mô hình tổ chức phi lợi nhuận độc lập Green Seal vận hành rất hiệu quả và được Cơ quan Bảo vệ Môi trường Mỹ (US EPA) công nhận, khuyến khích sử dụng chính thức trong hoạt động mua sắm công liên bang.[3]
Nhằm phù hợp với xu thế xã hội hóa dịch vụ công theo kinh nghiệm quốc tế, đề nghị nghiên cứu cơ chế theo hướng chuyển giao toàn bộ nhiệm vụ đánh giá, thẩm định và cấp chứng nhận Nhãn sinh thái Việt Nam cho một cơ quan độc lập (có thể là tổ chức tổ chức đánh giá sự phù hợ hoặc tổ chức phi lợi nhuận độc lập). Theo mô hình này, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ tập trung vào các nhiệm vụ quản lý chiến lược bao gồm: xây dựng, ban hành bộ tiêu chí Nhãn sinh thái Việt Nam cho từng nhóm sản phẩm; quy định tiêu chuẩn, điều kiện hoạt động và công nhận các tổ chức chứng nhận độc lập; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm đối với việc cấp và sử dụng Nhãn sinh thái. Việc chuyển giao này vừa giúp giảm tải bộ máy hành chính, rút ngắn thời gian xử lý thủ tục cho doanh nghiệp, vừa tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, nâng cao chất lượng và tính chuyên nghiệp của dịch vụ chứng nhận.
- Ưu đãi sản phẩm, dịch vụ nhãn sinh thái trong mua sắm công
Điều 146 Luật Bảo vệ môi trường 2020 quy định về các ưu đãi sản phẩm, dịch vụ nhãn sinh thái, tuy nhiên chưa có ưu đãi trong mua sắm công. Kinh nghiệm cho thấy, thị trường mua sắm công là thị trường lớn, đóng vai trò điều tiết và định hướng thị trường. Trong khi đó, các sản phẩm, dịch vụ thân thiện với môi trường, sản phẩm ứng dụng công nghệ tuần hoàn hay sản phẩm đạt Nhãn sinh thái mặc dù mang lại giá trị gia tăng sinh thái và lợi ích lâu dài rất lớn cho xã hội, nhưng lại là những nhóm sản phẩm mới trên thị trường. Với chi phí đầu tư ban đầu cho công nghệ xanh, chi phí tuân thủ tiêu chuẩn môi trường khắt khe và quy mô sản xuất giai đoạn đầu còn nhỏ, giá thành của các sản phẩm này thường cao hơn so với sản phẩm truyền thống, dẫn đến tình trạng dù chất lượng tốt nhưng sản phẩm xanh vẫn thiếu đầu ra tiêu thụ ổn định và gặp nhiều bất lợi khi cạnh tranh bình đẳng trên thị trường tự do.
Để tháo gỡ rào cản thị trường và khuyến khích cộng đồng doanh nghiệp mạnh dạn chuyển đổi mô hình sản xuất xanh, Nhà nước cần phát huy vai trò tiên phong trong việc chủ động “tạo lập thị trường đầu ra” thông qua công cụ mua sắm công, bên cạnh các biện pháp hỗ trợ tài chính. Đề nghị bổ sung quy định cụ thể tại Điều 146 Dự thảo Luật theo hướng giao Chính phủ ban hành và định kỳ cập nhật Danh mục sản phẩm, dịch vụ xanh ưu tiên trong mua sắm công.
- Chống hoạt động “tẩy xanh” (greenwashing)
Trong bối cảnh nhận thức của xã hội về bảo vệ môi trường ngày càng nâng cao, thị trường sản phẩm, dịch vụ xanh đang trở thành một phân khúc thị trường mới có giá trị cao và tiềm năng phát triển vượt trội. Để tiếp cận phân khúc thị trường này, nhiều doanh nghiệp đã chủ động đầu tư nguồn vốn lớn, đổi mới công nghệ, tối ưu hóa quy trình sản xuất và chấp nhận gánh chịu chi phí tuân thủ nghiêm ngặt để đạt các tiêu chuẩn Nhãn sinh thái Việt Nam. Tuy nhiên, cũng có tình trạng tổ chức, cá nhân tự ý gắn các mác hoặc cụm từ mơ hồ như “xanh”, “thân thiện với môi trường”, “eco”, “sinh thái”… lên bao bì và phương tiện quảng cáo cho các sản phẩm, dịch vụ chưa từng được kiểm định hay cấp chứng nhận Nhãn sinh thái. Hiện tượng này còn gọi là “tẩy xanh” (greenwashing). Việc sử dụng nhãn mác tự phong này tạo ra sự mập mờ, làm xói mòn niềm tin của người tiêu dùng đối với các sản phẩm xanh thực sự, đồng thời gây ra tình trạng cạnh tranh bất bình đẳng đối với những doanh nghiệp làm ăn nghiêm túc.
Muốn khuyến khích cộng đồng doanh nghiệp mạnh dạn chuyển đổi xanh, Nhà nước phải xây dựng một cơ chế pháp lý đủ mạnh để bảo vệ các sản phẩm nhãn xanh thật sự, thay vì chỉ dừng lại ở các chính sách hỗ trợ hay ưu đãi thụ động. Việc đầu tư sản xuất đạt chuẩn Nhãn sinh thái đòi hỏi doanh nghiệp tốn nhiều thời gian, công sức, chi phí, thay đổi nguyên liệu đầu vào và kiểm soát phát thải khắt khe, dẫn đến giá thành sản phẩm giai đoạn đầu thường khó cạnh tranh về giá so với sản phẩm thông thường. Nếu pháp luật không ngăn chặn hành vi “tẩy xanh”, các sản phẩm giả nhãn xanh hoặc tự phong mác xanh sẽ chiếm lĩnh thị trường mà không phải tốn chi phí tuân thủ môi trường, từ đó triệt tiêu động lực đầu tư xanh của các doanh nghiệp chân chính và làm sai lệch mục tiêu chính sách của Nhà nước.
Do đó, đề nghị nghiên cứu bổ sung quy định tại Điều 6 Dự thảo theo hướng: Nghiêm cấm việc sử dụng các cụm từ, thuật ngữ ám chỉ tính chất sinh thái, thân thiện môi trường trên nhãn mác, quảng cáo đối với các sản phẩm, dịch vụ chưa được cấp chứng nhận Nhãn sinh thái theo đúng quy định.
- Ưu đãi cho sản phẩm, dịch vụ nhãn sinh thái
Khoản 2 Điều 141 Luật Bảo vệ môi trường 2020 đã thiết lập khung chính sách ưu đãi, hỗ trợ tương đối toàn diện đối với các hoạt động bảo vệ môi trường và nhóm sản phẩm, dịch vụ đạt Nhãn sinh thái Việt Nam, bao gồm ưu đãi về đất đai, hỗ trợ lãi suất vay vốn và ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp. Tuy nhiên, phản ánh từ thực tiễn sản xuất – kinh doanh cho thấy cơ chế thụ hưởng các chính sách này còn tồn tại khoảng cách khá lớn giữa quy định pháp lý và khả năng tiếp cận thực tế của doanh nghiệp. Cụ thể, đối với chính sách ưu đãi về đất đai, quy định hiện hành chỉ áp dụng đối với các đối tượng giao đất, thuê đất trực tiếp từ Nhà nước, vốn chỉ phù hợp với một số ít dự án đầu tư quy mô lớn. Trong khi đó, phần lớn các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm xanh hiện nay lại chọn mô hình thuê mặt bằng, nhà xưởng từ các chủ đầu tư hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp, nên hoàn toàn không thể tận dụng hay thụ hưởng được chính sách ưu đãi về đất đai của Nhà nước. Tương tự, đối với chính sách hỗ trợ lãi suất vay vốn, để có thể tạo ra sản phẩm đạt tiêu chuẩn Nhãn sinh thái, doanh nghiệp đã phải thực hiện xong quá trình đầu tư mua sắm máy móc, công nghệ, xây dựng nhà xưởng và thực tế đã phải vay vốn ngân hàng từ giai đoạn đầu tư ban đầu, tức trước thời điểm chính thức được cấp chứng nhận. Việc chính sách chưa tính đến cơ chế hỗ trợ đối với các khoản vay đã phát sinh trước đó khiến nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc thụ hưởng ưu đãi lãi suất trên thực tế.
Để bảo đảm các chính sách ưu đãi của Nhà nước thực sự đi vào cuộc sống, tạo động lực thực chất khuyến khích doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư chuyển đổi xanh, đề nghị bổ sung cụm từ “các chính sách ưu đãi khác có tính chất hỗ trợ tương tự” vào Điều 141.2.b Dự thảo. Việc bổ sung quy định mở này sẽ tạo cơ sở pháp lý linh hoạt để Chính phủ ban hành các chính sách hỗ trợ sát với thực tiễn. Chẳng hạn, có thể cân nhắc quy định cơ chế hỗ trợ tiền thuê đất/mặt bằng đối với các dự án sản xuất xanh nằm trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp (một chính sách hỗ trợ mặt bằng, có tính chất như hỗ trợ đất đai trực tiếp của Nhà nước); đồng thời áp dụng cơ chế đồng hỗ trợ trực tiếp phần lãi suất tại các tổ chức tín dụng đối với các khoản vay mà doanh nghiệp đã giải ngân trước đó để đầu tư công nghệ, máy móc, tính từ thời điểm sản phẩm chính thức nhận được chứng nhận Nhãn sinh thái. Quy định này sẽ bảo đảm tính khả thi, công bằng và nâng cao hiệu quả thụ hưởng chính sách ưu đãi bảo vệ môi trường của cộng đồng doanh nghiệp.
Trên đây là bản tổng hợp ý kiến các doanh nghiệp của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam về Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường. Rất mong Quý cơ quan cân nhắc để chỉnh sửa, hoàn thiện Dự thảo này.
Trân trọng cảm ơn sự hợp tác của Quý Cơ quan./.
[1] https://globalecolabelling.net/organisation/eco-mark-program/
[2] https://www.geca.eco/?gad_source=1&gbraid=0AAAAADGJT78XRAsOk05-ZVa5q5drbb68c
Website xây dựng pháp luật của VCCI