Góp ý Thông tư quy định về chỉ tiêu thông tin, mẫu chứng từ khai báo khi làm thủ tục xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh đối với phương tiện qua cửa khẩu đường hàng không, đường biển, đường sắt, đường bộ và đường thủy nội địa
Kính gửi: Bộ Tài chính
Trả lời Công văn số 6056/BTC-CHQ của Bộ Tài chính về việc tham gia ý kiến về hồ sơ Dự thảo Thông tư quy định về chỉ tiêu thông tin, mẫu chứng từ khai báo khi làm thủ tục xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh đối với phương tiện qua cửa khẩu đường hàng không, đường biển, đường sắt, đường bộ và đường thủy nội địa (thay thế Thông tư số 50/2018/TT-BTC ngày 23/5/2018 của Bộ trưởng Bộ Tài chính) (sau đây gọi là “Dự thảo”), Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) có ý kiến ban đầu như sau:
1. ĐÁNH GIÁ CHUNG
VCCI đánh giá cao nỗ lực của Cục Hải quan và Bộ Tài chính trong việc chủ động rà soát, sửa đổi Thông tư số 50/2018/TT-BTC để bảo đảm sự đồng bộ với Nghị định số 167/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan, đồng thời đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số toàn diện trong lĩnh vực hải quan theo Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Việc xây dựng Dự thảo có hai điểm tiến bộ căn bản, có ý nghĩa thực tiễn rõ rệt đối với cộng đồng doanh nghiệp:
Thứ nhất, Dự thảo bổ sung quy định về chỉ tiêu thông tin khai báo điện tử cho cả ba tuyến đường bộ, đường sắt và đường thủy nội địa – những tuyến vốn chỉ thực hiện thủ tục thủ công bằng chứng từ giấy theo Thông tư 50/2018/TT-BTC. Đây là bước hoàn thiện rất cần thiết, khắc phục bất cân xứng giữa các loại hình vận tải và tạo điều kiện thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia (NSW) đồng bộ, thống nhất.
Thứ hai, Dự thảo sử dụng nguyên tắc kế thừa hợp lý đối với những nội dung đã ổn định (chỉ tiêu thông tin tàu biển, tàu bay) và chỉ tập trung sửa đổi, bổ sung những nội dung thực sự cần thiết, phù hợp với nguyên tắc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 64/2025/QH15 ngày 19/02/2025 của Quốc hội (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 ngày 25/6/2025).
Tuy nhiên, qua rà soát cụ thể, VCCI nhận thấy Dự thảo còn một số nội dung cần được hoàn thiện thêm để bảo đảm tính rõ ràng, đầy đủ, khả thi và thực sự thuận lợi cho doanh nghiệp khi triển khai theo góp ý cụ thể dưới đây.
2. GÓP Ý CỤ THỂ
1. Về Điều 3 (Chỉ tiêu thông tin, mẫu chứng từ)
1.1. Về hướng dẫn áp dụng biểu mẫu đối với phương tiện chở hàng quá cảnh
Điểm c và điểm d khoản 1 Điều 3 xác định phạm vi điều chỉnh là phương tiện “xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh”. VCCI hiểu rằng theo nghiệp vụ hải quan, phương tiện chở hàng hóa quá cảnh khi di chuyển vào lãnh thổ Việt Nam thực hiện thủ tục tạm nhập – tái xuất đối với bản thân phương tiện. Do đó, việc các Phụ lục III và IV sử dụng biểu mẫu tạm nhập – tái xuất để điều chỉnh cả phương tiện chở hàng hóa quá cảnh là có cơ sở nghiệp vụ. Để giữ sự rõ ràng cho người thực hiện, VCCI đề nghị bổ sung một mã loại hình hoặc chỉ tiêu đánh dấu (checkbox) riêng biệt ngay trên biểu mẫu điện tử để phân định rõ ràng phương tiện đang ở chế độ quá cảnh hay tạm nhập – tái xuất.
1.2. Về mã hóa chỉ tiêu giữa các Phụ lục
Các Phụ lục I đến V đều xây dựng dưới dạng bảng các chỉ tiêu thông tin nhưng không có hệ thống mã trường (data element ID) thống nhất. Việc không chuẩn hóa mã trường sẽ làm tăng chi phí phát triển phần mềm khai báo cho doanh nghiệp và tạo rủi ro sai sót khi đối chiếu chéo giữa các loại hình vận tải.
VCCI đề nghị: Bổ sung một Phụ lục danh mục mã trường dữ liệu chuẩn hóa (data dictionary) hoặc tham chiếu đến Quyết định công bố mã trường dữ liệu của Cục Hải quan, để các doanh nghiệp và đơn vị phát triển phần mềm có cơ sở thống nhất khi xây dựng giao diện kết nối với NSW.
2. Về Điều 4 (Điều khoản chuyển tiếp)
Khoản 3 Điều 4 quy định: “Trường hợp hệ thống công nghệ thông tin của các bộ, ngành chưa đáp ứng yêu cầu kỹ thuật để tiếp nhận chỉ tiêu thông tin khai báo và xử lý, phản hồi kết quả thì tiếp tục thực hiện theo quy định tại Thông tư số 50/2018/TT-BTC trong thời gian tối đa 01 năm kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành.”
Quy định này cần được cân nhắc, xem xét ở một số điểm sau:
– Tiêu chí xác định “hệ thống chưa đáp ứng yêu cầu kỹ thuật”: Theo quy định này, trường hợp hệ thống công nghệ thông tin của các bộ, ngành chưa đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật thì doanh nghiệp sẽ phải thực hiện thủ tục theo phương thức truyền thống quy định tại Thông tư 50/2018/TT-BTC. Tuy nhiên, làm thế nào để nhận biết được “hệ thống đã đáp ứng” hay “chưa đáp ứng” từ phía doanh nghiệp là rất khó. Điều này dẫn tới hệ quả, doanh nghiệp sẽ không biết phải thực hiện điện tử hoàn toàn hay là phải thực hiện bằng hình thức nộp tài liệu giấy.
– Quy định “thời hạn tối đa 01 năm” để chuyển đổi sang khai báo điện tử hoàn toàn là chưa đủ rõ ràng. Doanh nghiệp khó xác định chính xác thời điểm kết thúc mốc thời gian này (là ngày tròn 01 năm, hay ngày liền trước/liền sau ngày đó). Sự thiếu minh bạch về lộ trình áp dụng cụ thể sẽ gây lúng túng và vướng mắc cho doanh nghiệp trong quá trình thực thi.
– Cơ chế áp dụng song song trong giai đoạn chuyển tiếp: Dự thảo cần làm rõ trong giai đoạn chuyển tiếp doanh nghiệp được lựa chọn khai báo theo bộ chỉ tiêu mới hay bắt buộc phải theo bộ chỉ tiêu cũ.
Để đảm bảo tính rõ ràng, thuận lợi trong quá trình thực hiện, VCCI đề nghị sửa đổi khoản 3 Điều 4 theo hướng quy định cụ thể cơ chế Cục Hải quan công bố lộ trình triển khai từng bộ chỉ tiêu khai báo điện tử (đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa) trên Cổng thông tin điện tử của Cục Hải quan, kèm thời điểm bắt đầu áp dụng cụ thể.
3. Về Phụ lục I (Chỉ tiêu thông tin đối với tàu biển)
Phụ lục I cơ bản kế thừa nội dung Thông tư 50/2018/TT-BTC, đã được triển khai ổn định nhiều năm và chưa phát sinh vướng mắc lớn. VCCI nhất trí với cách tiếp cận kế thừa này. Tuy nhiên, VCCI đề nghị Cơ quan chủ trì soạn thảo cân nhắc một số nội dung sau:
– Về sự thống nhất với Nghị định số 58/2017/NĐ-CP và các văn bản sửa đổi, bổ sung: Đề nghị rà soát toàn bộ chỉ tiêu thông tin tại Phụ lục I bảo đảm phù hợp với Mẫu các văn bản sử dụng trong hoạt động hàng hải ban hành kèm theo Nghị định số 58/2017/NĐ-CP ngày 10/5/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Bộ luật Hàng hải Việt Nam về quản lý hoạt động hàng hải (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 74/2023/NĐ-CP ngày 11/10/2023 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định liên quan đến phân cấp giải quyết thủ tục hành chính trong lĩnh vực hàng hải và Nghị định số 34/2025/NĐ-CP ngày 25/02/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định trong lĩnh vực hàng hải), tránh tình trạng cùng một thông tin (ví dụ: Bản khai chung, Danh sách thuyền viên) phải khai theo hai mẫu khác nhau cho cơ quan Hàng hải và cơ quan Hải quan.
– Về tích hợp khai báo điện tử với Cổng thông tin một cửa quốc gia: Hiện tại, nhiều thông tin tàu biển đã được khai báo trên Cảng vụ điện tử (E-port) và các hệ thống chuyên ngành hàng hải. Đề nghị làm rõ cơ chế chia sẻ dữ liệu liên thông giữa các hệ thống này với NSW để doanh nghiệp không phải khai báo cùng một thông tin nhiều lần.
4. Về Phụ lục II (Chỉ tiêu thông tin đối với tàu bay)
4.1. Về bổ sung chỉ tiêu thông tin chi tiết về hành khách (mục 6 Phụ lục II)
Dự thảo bổ sung yêu cầu hãng hàng không phải khai báo chi tiết thông tin của hành khách gồm: họ và tên, giới tính, ngày tháng năm sinh, quốc tịch, loại giấy tờ, số giấy tờ có giá trị nhập cảnh – xuất cảnh, nơi cấp và giá trị của giấy tờ, theo yêu cầu quản lý của Bộ Công an. VCCI tán thành mục tiêu nâng cao hiệu quả kiểm soát xuất nhập cảnh và phòng chống tội phạm xuyên quốc gia. Tuy nhiên, để bảo đảm tính khả thi và phù hợp với thông lệ quốc tế, VCCI đề nghị làm rõ một số nội dung:
(i) Căn cứ pháp lý và lộ trình chuyển đổi từ Nghị định số 27/2011/NĐ-CP sang cơ chế NSW: Nghị định số 27/2011/NĐ-CP ngày 09/4/2011 của Chính phủ về cung cấp, khai thác, xử lý, sử dụng thông tin về hành khách trước khi nhập cảnh Việt Nam qua đường hàng không đang quy định cơ chế hãng hàng không khai báo thông tin hành khách (API) trực tiếp với cơ quan quản lý xuất nhập cảnh. Sau khi Thông tư mới có hiệu lực, thông tin này sẽ được kênh hóa qua Cổng NSW để phân luồng đến các cơ quan liên quan. Cần quy định rõ thời điểm chính thức nhập khai báo API vào cơ chế NSW thay thế cơ chế trực tiếp theo Nghị định số 27/2011/NĐ-CP, tránh tạo khoảng trống pháp lý trong giai đoạn chuyển tiếp và bảo đảm thiết bị, phần mềm của hãng hàng không được điều chỉnh đồng bộ.
(ii) Thời điểm cung cấp dữ liệu: Cần quy định rõ thời điểm hãng hàng không phải gửi dữ liệu chi tiết hành khách (trước khi chuyến bay khởi hành bao nhiêu giờ, hay sau khi chuyến bay hạ cánh), bảo đảm phù hợp với chuẩn ICAO PNR Guidelines (Doc 9944) và chuẩn IATA/WCO.
(iii) Bảo vệ dữ liệu cá nhân: Việc khai báo chi tiết dữ liệu cá nhân (giới tính, ngày sinh, số giấy tờ tùy thân) thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15 ngày 26/6/2025 của Quốc hội (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026) và Nghị định số 13/2023/NĐ-CP ngày 17/4/2023 của Chính phủ về bảo vệ dữ liệu cá nhân. Cần bổ sung quy định về mục đích sử dụng, thời hạn lưu trữ, cơ chế bảo mật và quyền của chủ thể dữ liệu, hoặc viện dẫn rõ ràng đến các văn bản chuyên ngành đã quy định.
4.2. Về định dạng dữ liệu chuẩn quốc tế
Khai báo hàng không có đặc thù phải tuân thủ các chuẩn quốc tế (IATA Cargo-IMP/Cargo-XML, ICAO PNRGOV EDIFACT/XML, WCO Data Model). Đề nghị Cơ quan chủ trì soạn thảo công bố tài liệu hướng dẫn kỹ thuật về định dạng dữ liệu (XSD, mapping với chuẩn quốc tế) đồng thời với việc ban hành Thông tư, để các hãng hàng không có cơ sở phát triển hệ thống kết nối.
5. Về Phụ lục III (Chỉ tiêu thông tin đối với phương tiện đường thủy nội địa)
5.1. Về phạm vi và đối tượng áp dụng
Phương tiện vận tải đường thủy nội địa xuất cảnh, nhập cảnh qua các cửa khẩu đường thủy nội địa hiện nay chủ yếu là phương tiện qua lại biên giới với Campuchia (tuyến sông Mê Kông, sông Hậu, sông Tiền) và một phần với Trung Quốc. Đặc thù phương tiện này là đa phần tàu, ghe nhỏ, không có chỗ ngồi cố định, người điều khiển phương tiện có thể đồng thời là chủ phương tiện và chở hàng nông sản hai chiều theo văn bản thỏa thuận của chính quyền địa phương biên giới (giao nhận hàng trong ngày). VCCI đề nghị Cơ quan chủ trì soạn thảo rà soát các chỉ tiêu sau:
– Chỉ tiêu “Trọng tải toàn phần/Deadweight Tonnage” (STT 10): nhiều phương tiện thủy nội địa loại nhỏ không có Giấy chứng nhận đăng ký phương tiện ghi đầy đủ thông số DWT. Đề nghị bổ sung quy định trường hợp không có DWT thì khai theo trọng tải đăng ký hoặc trọng tải thực tế chuyên chở.
– Đối với phương tiện thực hiện qua lại biên giới giao nhận hàng trong ngày theo văn bản thỏa thuận của chính quyền địa phương (đã được nêu trong phần Mô tả tại STT 14 Phụ lục III), đề nghị xây dựng bộ chỉ tiêu đơn giản hóa riêng (rút gọn) để phù hợp với tính chất phương tiện qua lại lặp lại nhiều lần, tránh yêu cầu doanh nghiệp khai báo đầy đủ 21 chỉ tiêu cho mỗi lượt qua biên giới (có thể nhiều lần trong ngày).
5.2. Về sự phù hợp với quy định thủ tục hải quan 01 lần trong thời hạn 30 ngày
Khoản 1 Điều 81 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 48 Điều 1 Nghị định số 167/2025/NĐ-CP) cho phép phương tiện vận tải vận chuyển hành khách tuyến cố định, vận chuyển hàng hóa, thường xuyên xuất cảnh, nhập cảnh qua cùng một cửa khẩu theo giấy phép vận tải hoặc giấy phép liên vận được thực hiện thủ tục hải quan 01 lần trong thời hạn 30 ngày. Tuy nhiên, Phụ lục III hiện không có chỉ tiêu hoặc cơ chế đánh dấu để phân biệt phương tiện thuộc diện được hưởng quy định 01 lần/30 ngày. VCCI đề nghị bổ sung chỉ tiêu “Loại hình khai báo” với các lựa chọn: (i) Khai báo theo từng lượt; (ii) Khai báo định kỳ 30 ngày; (iii) Khai báo theo giấy phép liên vận đa lượt.
6. Về Phụ lục IV (Chỉ tiêu thông tin đối với phương tiện đường bộ)
6.1. Về chỉ tiêu “Xe tự hành” (STT 6 Phụ lục IV mục 1)
Việc bổ sung chỉ tiêu “xe tự hành” là cần thiết để chuẩn bị cho mô hình Cửa khẩu thông minh, đặc biệt đối với các phương tiện AGV (Automated Guided Vehicle) không có tài xế tham gia khai báo hải quan tại các cửa khẩu Việt – Trung. VCCI đề nghị bổ sung tại phần “Mô tả/Hướng dẫn khai báo” của Phiếu khai hai chỉ tiêu cụ thể:
(i) Đối với xe tự hành, các trường thông tin về “người điều khiển” (họ tên, hộ chiếu, địa chỉ) được để trống khi đã khai loại phương tiện là xe tự hành, tránh tình trạng hệ thống NSW báo lỗi thiếu trường bắt buộc;
(ii) Bổ sung chỉ tiêu “Đơn vị vận hành/Operator” làm định danh thay thế cho tài xế, phục vụ công tác kiểm tra, đối chiếu sau thông quan.
6.2. Về Mục 6 – Phương tiện vận tải không xuất cảnh
Mục 6 là điểm mới rất quan trọng, áp dụng cho phương tiện vận tải từ nội địa ra, vào khu vực cửa khẩu để giao, nhận hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu mà bản thân phương tiện không xuất cảnh. Việc bổ sung quy định này phù hợp với khoản 4 Điều 35 Dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 85/2019/NĐ-CP ngày 14/11/2019 của Chính phủ quy định thực hiện thủ tục hành chính theo Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN và kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và phục vụ mô hình Cửa khẩu thông minh. Tuy nhiên, có một số vấn đề cần làm rõ:
– Phạm vi “khu vực cửa khẩu”: Dự thảo cần làm rõ phạm vi địa lý cụ thể của “khu vực cửa khẩu”, viện dẫn rõ đến Nghị định số 112/2014/NĐ-CP ngày 21/11/2014 của Chính phủ quy định về quản lý cửa khẩu biên giới đất liền (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 34/2023/NĐ-CP ngày 16/6/2023 của Chính phủ) để tránh tình trạng phương tiện vận tải nội địa thông thường (xe tải chở hàng giữa các tỉnh giáp biên) bị buộc phải khai báo hải quan khi đi qua các tuyến đường thuộc “khu vực cửa khẩu”.
– Tần suất khai báo: Đối với các doanh nghiệp logistics nội địa cung cấp dịch vụ giao – nhận hàng tại cửa khẩu, phương tiện có thể ra vào khu vực cửa khẩu nhiều lần trong ngày. VCCI đề nghị xây dựng cơ chế khai báo đăng ký một lần cho phương tiện thường xuyên ra vào (giống cơ chế “xe luân chuyển” đang được áp dụng tại một số cửa khẩu trọng điểm như Hữu Nghị, Tân Thanh, Móng Cái).
7. Về Phụ lục V (Chỉ tiêu thông tin đối với tàu hỏa)
Việc bổ sung chỉ tiêu khai báo điện tử đối với tàu hỏa xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh qua cửa khẩu đường sắt liên vận quốc tế là cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh tăng cường hợp tác đường sắt với Trung Quốc và mở rộng tuyến liên vận Á – Âu qua cửa khẩu Đồng Đăng (Lạng Sơn) và Lào Cai. VCCI đề nghị Cơ quan chủ trì soạn thảo bổ sung:
– Cơ chế tích hợp với chuẩn quốc tế FIATA, CIM/SMGS về vận đơn đường sắt liên vận quốc tế, để doanh nghiệp xuất nhập khẩu sử dụng đường sắt không phải chuyển đổi dữ liệu thủ công giữa chuẩn quốc tế và chuẩn khai báo hải quan Việt Nam.
– Cơ chế khai báo cho tàu hỏa chở container qua tuyến liên vận quốc tế, trong đó một đoàn tàu có thể chở nhiều chủ hàng, nhiều mã hàng, đến/đi nhiều ga đích khác nhau. Cần làm rõ trách nhiệm khai báo của người vận chuyển đường sắt và đại lý giao nhận, tránh chồng chéo nghĩa vụ.
Trên đây là các ý kiến góp ý ban đầu của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đối với Dự thảo Thông tư quy định về chỉ tiêu thông tin, mẫu chứng từ khai báo khi làm thủ tục xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh đối với phương tiện qua cửa khẩu đường hàng không, đường biển, đường sắt, đường bộ và đường thủy nội địa thay thế Thông tư số 50/2018/TT-BTC. Rất mong cơ quan soạn thảo cân nhắc để chỉnh sửa, hoàn thiện Dự thảo này.
Trân trọng cảm ơn sự hợp tác của Quý Cơ quan./.
Website xây dựng pháp luật của VCCI