Góp ý Dự thảo Thông tư ban hành danh mục sản phẩm, hàng hoá có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công Thương
Góp ý Dự thảo Thông tư sửa đổi các Thông tư để phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính lĩnh vực viễn thông
Góp ý Thông tư ban hành danh mục sản phẩm, hàng hoá có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao thuộc phạm vi quản lý của Bộ Nông nghiệp và Môi trường
Kính gửi: Bộ Nông nghiệp và Môi trường
Trả lời Công văn số 3710/BNNMT-CCPT ngày 16/4/2026 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường về việc đề nghị góp ý Dự thảo Thông tư ban hành danh mục sản phẩm, hàng hoá có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao thuộc phạm vi quản lý của Bộ Nông nghiệp và Môi trường (sau đây gọi tắt là Dự thảo), trên cơ sở ý kiến của các doanh nghiệp, hiệp hội, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổng hợp ý kiến của các doanh nghiệp như sau:
Việc xây dựng Danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình và mức độ rủi ro cao thuộc phạm vi quản lý của Bộ Nông nghiệp và Môi trường có ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn thiện cơ chế quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa theo hướng quản lý dựa trên mức độ rủi ro. Danh mục này sẽ là cơ sở để xác định biện pháp quản lý phù hợp đối với từng nhóm sản phẩm, hàng hóa, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, bảo đảm an toàn đối với con người, vật nuôi và môi trường, đồng thời tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Một trong những căn cứ quan trọng để xây dựng Danh mục tại Dự thảo là quy định tại Nghị định số 37/2026/NĐ-CP, theo đó việc xác định mức độ rủi ro của sản phẩm, hàng hóa sẽ được thực hiện theo các nguyên tắc:
“a) Căn cứ vào bằng chứng khoa học và dữ liệu áp dụng trong thực tiễn; b) Khả năng quản lý của cơ quan nhà nước trong từng thời kỳ; c) Bảo đảm tính minh bạch, khách quan, kế thừa nguyên tắc quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa; d) Bảo đảm nguyên tắc tỷ lệ, yêu cầu quản lý nhà nước phải tương xứng với mức độ rủi ro; đ) Áp dụng nguyên tắc phòng ngừa trong trường hợp có nguy cơ nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng con người, môi trường hoặc an ninh quốc gia mà chưa có đầy đủ bằng chứng khoa học”.
Đối chiếu với hồ sơ Dự thảo và các bản thuyết minh của từng Danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình và mức độ rủi ro cao, có thể thấy một số vấn đề sau:
1. Về phương pháp xác định mức độ rủi ro của sản phẩm, hàng hóa
Theo quy định tại Nghị định số 37/2026/NĐ-CP việc đánh giá mức độ rủi ro của sản phẩm, hàng hóa phải dựa trên bằng chứng khoa học, dữ liệu thực tiễn, tính minh bạch và nguyên tắc quản lý tương xứng với mức độ rủi ro. Trong phiếu đánh giá rủi ro đối với từng sản phẩm, hàng hóa, mặc dù Dự thảo có đề cập đến một số yếu tố như mối nguy, hậu quả hoặc đặc điểm lưu thông của sản phẩm, tuy nhiên các thông tin này chủ yếu được trình bày dưới dạng mô tả định tính, chưa thể hiện rõ cơ sở lượng hóa và cách thức tính toán để xác định mức độ rủi ro tương ứng. Ví dụ: đánh giá rủi ro đối với giống lúa, giống ngô, ở phần đánh giá “khả năng kiểm soát chuỗi cung ứng” có nêu “Chuỗi cung ứng có tính đa tầng, phân tán rộng, có yếu tố xuyên biên giới, khó khăn trong kiểm soát điều kiện bảo quản, vận chuyển. Có nhà sản xuất ở nước ngoài, có nhà sản xuất ở nước ngoài nhưng có văn phòng đại diện tại Việt Nam, có nhà sản xuất ở trong nước, nhà nhập khẩu, nhà phân phối cấp 1, cấp 2, đại lý bán lẻ cấp xã/phường, người sử dụng nên dễ bị đứt gãy chuỗi cung ứng.”. Đây là các thông tin chung chung, có thể mô tả về bất kì loại hàng hóa nào, trong khi đó, thông tin cần biết là hiện trạng về chuỗi cung cứng sản phẩm ngô, lúa ở Việt Nam hiện nay như thế nào, qua các kênh phân phối nào và khả năng kiểm soát chuỗi cung ứng đối với hai sản phẩm này như thế nào trên thực tế.
Khi đánh giá cụ thể các yếu tố C, k, P để xác định R (điểm mức độ rủi ro của sản phẩm, hàng hóa), các dữ liệu thông tin đầu vào cũng mang tính chất định tính, chung chung, thiếu các bằng chứng rõ ràng, cụ thể. Ví dụ, đối với sản phẩm là giống lúa, ngô, khi đánh giá “khả năng xảy ra mối nguy P”, đánh giá về “ô nhiễm không khí, nguồn nước, đất”, “nguy cơ ảnh hưởng đến hệ sinh thái, đa dạng sinh học”, được đánh giá ở mức “có thể xảy ra” dựa vào nguồn dữ liệu là “Qua thu thập dữ liệu thông tin vi phạm về môi trường từ cơ quan chức năng đối với các cơ sở sản xuất và kinh doanh giống lúa, ngô”. Tuy nhiên, Bản thuyết minh lại không nêu rõ các dữ liệu thông tin vi phạm về môi trường của việc trồng giống lúa, ngô như thế nào thời gian qua, tần suất vi phạm như thế nào, mức độ ảnh hưởng ra sao, …
Tóm lại, Phiếu đánh giá rủi ro đã căn cứ vào phương pháp đánh giá rủi ro quy định tại Phụ lục VI Nghị định 37/2026/NĐ-CP, nhưng các dữ liệu dùng làm căn cứ xác định các các tiêu chí chưa đủ rõ, vì vậy kết quả xác định mức độ rủi ro của từng sản phẩm, hàng hóa dường như chưa thật sự rõ ràng và thuyết phục. Từ các phân tích nêu trên, đề nghị cơ quan soạn thảo: Bổ sung bảng tính điểm đối với các tiêu chí k, C, P và thuyết minh cụ thể cách xác định từng điểm số của từng sản phẩm hoặc nhóm sản phẩm hàng hóa. Các nguồn dữ liệu được xem xét cần cụ thể, có tính định lượng, phản ánh thực tiễn sản xuất, kinh doanh các loại hàng hóa và cơ chế kiểm soát đang áp dụng
2. Về quy định chuyển tiếp và lộ trình sửa đổi QCVN
Theo nguyên tắc và phương pháp xác định mức độ rủi ro quy định tại Nghị định số 37/2026/NĐ-CP, việc phân loại mức độ rủi ro của sản phẩm, hàng hóa cần được thực hiện trên cơ sở đánh giá các mối nguy, dữ liệu thực tiễn và mức độ rủi ro thực tế của sản phẩm, hàng hóa thay vì chỉ căn cứ vào việc sản phẩm đã có QCVN. Tuy nhiên, trên thực tế hệ thống quản lý hiện hành đối với nhiều sản phẩm, hàng hóa vẫn đang được xây dựng trên cơ sở các QCVN áp dụng cho hàng hóa nhóm 2 trước đây.
Các doanh nghiệp phản ánh rằng trong trường hợp Dự thảo chuyển sang áp dụng cơ chế quản lý theo mức độ rủi ro theo Nghị định số 37/2026/NĐ-CP nhưng hệ thống QCVN và các quy định quản lý liên quan chưa được rà soát, điều chỉnh tương ứng, có thể phát sinh tình trạng chồng chéo hoặc thiếu thống nhất giữa cơ chế quản lý cũ và cơ chế quản lý mới. Điều này sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp trong quá trình thực hiện, đặc biệt liên quan đến hoạt động công bố hợp quy, thử nghiệm, đánh giá sự phù hợp và áp dụng biện pháp quản lý đối với sản phẩm, hàng hóa đang lưu thông trên thị trường.
Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 5 Nghị định số 37/2026/NĐ-CP đã xác định trách nhiệm của các bộ quản lý ngành, lĩnh vực trong việc rà soát, ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung các QCVN tương ứng với sản phẩm, hàng hóa thuộc Danh mục theo lộ trình phù hợp nhằm bảo đảm tính thống nhất và thuận lợi trong quá trình áp dụng cơ chế quản lý theo mức độ rủi ro. Việc chưa có quy định chuyển tiếp rõ ràng trong giai đoạn chuyển đổi cơ chế quản lý có thể làm phát sinh thêm thủ tục hành chính, chi phí thử nghiệm, đánh giá sự phù hợp không cần thiết và ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Do đó, đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét:
(i) Bổ sung quy định về biện pháp quản lý áp dụng trong giai đoạn chuyển tiếp đối với các sản phẩm, hàng hóa thuộc nhóm rủi ro trung bình và rủi ro cao trong thời gian hệ thống QCVN và các quy định quản lý liên quan chưa được rà soát, điều chỉnh tương ứng;
(ii) Nghiên cứu lộ trình rà soát, sửa đổi hoặc điều chỉnh các QCVN và quy định quản lý liên quan theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định số 37/2026/NĐ-CP nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong quá trình áp dụng cơ chế quản lý theo mức độ rủi ro.
3. Về một số nội dung tại Phụ lục Danh mục sản phẩm, hàng hóa
Các doanh nghiệp, hiệp hội phản ánh rằng một số nội dung tại Phụ lục Danh mục sản phẩm, hàng hóa hiện chưa phản ánh đầy đủ phạm vi sản phẩm thực tế trong lĩnh vực thức ăn chăn nuôi.
Cụ thể, Hiệp hội Thức ăn chăn nuôi Việt Nam cho rằng Dự thảo hiện chưa bao quát đến sản phẩm “thức ăn tinh hỗn hợp cho bê và bò thịt” tại Mục A.3 Phụ lục. Bên cạnh đó, tên gọi tại Mục A.3.3 Phụ lục hiện chưa phản ánh đầy đủ phạm vi các sản phẩm thức ăn bổ sung đang lưu thông trên thị trường.
Vì vậy, đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét:
(i) Bổ sung “thức ăn tinh hỗn hợp cho bê và bò thịt” tại Mục A.3 Phụ lục;
(ii) Sửa Mục A.3.3 Phụ lục thành “thức ăn bổ sung” hoặc “Thức ăn bổ sung dạng nguyên liệu đơn và dạng hỗn hợp”.
Trên đây là một số ý kiến ban đầu của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đối với Dự thảo Thông tư ban hành danh mục sản phẩm, hàng hoá có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao thuộc phạm vi quản lý của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Rất mong cơ quan soạn thảo cân nhắc để chỉnh sửa, hoàn thiện Dự thảo này.
Trân trọng cảm ơn sự hợp tác của Quý Cơ quan./.
Website xây dựng pháp luật của VCCI