Góp ý Hồ sơ chính sách dự án Bộ luật Hình sự (sửa đổi)

Thứ Tư 13:53 29-04-2026

Kính gửi: Bộ Công an

Trả lời Công văn số 1520/BCA-V03 của Bộ Công an về việc đề nghị góp ý Dự thảo Hồ sơ chính sách Bộ luật Hình sự (sau đây gọi tắt là Dự thảo), Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) trân trọng gửi tới quý Cơ quan một số ý kiến góp ý như sau:

I. ĐÁNH GIÁ CHUNG

Dự thảo Hồ sơ chính sách Bộ luật Hình sự (sửa đổi) thể hiện nỗ lực lớn của Ban soạn thảo trong việc thể chế hóa tinh thần Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, Nghị quyết 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng pháp luật và Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá khoa học công nghệ. VCCI ghi nhận và đánh giá cao nhiều điểm tiến bộ trong Dự thảo, cụ thể:

Thứ nhất, chế định “tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự” là một chế định hoàn toàn mới, tạo ra tầng xử lý trung gian giữa “truy cứu ngay” và “miễn ngay”, phù hợp với tinh thần Nghị quyết 68 về ưu tiên khắc phục hậu quả kinh tế trước khi xử lý hình sự.

Thứ hai, việc mở rộng loại trừ trách nhiệm hình sự cho rủi ro trong thử nghiệm mô hình sản xuất, kinh doanh mới đáp ứng đúng yêu cầu của Nghị quyết 57 về khuyến khích đổi mới sáng tạo.

Thứ ba, định hướng thu hẹp hình phạt tử hình, mở rộng hình phạt tiền và cải tạo không giam giữ phù hợp với xu hướng quốc tế về giảm phụ thuộc vào hình phạt tước tự do.

Thứ tư, việc phi hình sự hóa một số hành vi có tính nguy hiểm không đáng kể bằng cách bỏ dấu hiệu nhân thân “đã bị xử phạt vi phạm hành chính” ở một số tội danh là hướng đi tích cực, phù hợp với nguyên tắc tương xứng trong luật hình sự hiện đại.

Tuy nhiên, từ tinh thần cốt lõi của các Nghị quyết nêu trên, xuất phát từ thực tiễn kinh doanh, VCCI nhận thấy một số nội dung cần được cân nhắc, hoàn thiện thêm nhằm đảm bảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi) vừa phục vụ hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, vừa tạo môi trường pháp lý an toàn, minh bạch cho cộng đồng doanh nghiệp và nhà đầu tư.

II. GÓP Ý CỤ THỂ

1. Về Chính sách 1: Hoàn thiện, bổ sung các quy định về loại trừ trách nhiệm hình sự, tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt

1.1. Về điều kiện tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự

VCCI đánh giá cao việc Dự thảo đề xuất chế định tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự, cho thời gian khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm gây thiệt hại về kinh tế. Đây là hướng tiếp cận tiến bộ, phù hợp với tinh thần Nghị quyết 68-NQ/TW và Nghị quyết 66-NQ/TW.

Tuy nhiên, Dự thảo đặt điều kiện hành vi phải gắn với mục đích “phát triển kinh tế xã hội”, “mang lại hiệu quả kinh tế xã hội cho địa phương, đất nước”. Trên thực tế, hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng góp phần phát triển kinh tế xã hội ở những mức độ khác nhau, và việc xác định một hoạt động kinh tế cụ thể có đáp ứng mục đích này hay không là rất khó khăn trong thực tiễn áp dụng. Điều kiện mang tính định tính này có thể dẫn đến cách hiểu và áp dụng không thống nhất giữa các cơ quan tố tụng, từ đó ảnh hưởng đến tính công bằng và minh bạch của chính sách.

Vì vậy, VCCI đề nghị cân nhắc điều chỉnh theo hướng xác định các điều kiện cốt lõi rõ ràng hơn, bao gồm: (i) hành vi gây thiệt hại về kinh tế; (ii) không có yếu tố tham nhũng, vụ lợi cá nhân; (iii) chủ thể vi phạm có khả năng và cam kết khắc phục toàn bộ hậu quả. Cách tiếp cận này vừa đảm bảo tính khả thi trong áp dụng, vừa đúng tinh thần Nghị quyết 68 khi khẳng định “kiên quyết không áp dụng xử lý hình sự” trong trường hợp có thể xử lý bằng biện pháp dân sự, kinh tế, hành chính.

1.2. Về hậu quả pháp lý và thủ tục thực hiện

Dự thảo đề xuất chế định tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự và cho thời gian khắc phục hậu quả, tuy nhiên chưa làm rõ hậu quả pháp lý tiếp theo. Cụ thể, nếu chủ thể vi phạm khắc phục toàn bộ hậu quả trong thời gian quy định thì sẽ được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự hay chỉ được xem xét giảm nhẹ. Trong trường hợp chỉ khắc phục được một phần hậu quả, cơ chế xử lý tiếp theo cũng chưa được đề cập.

Ngoài ra, việc tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự đương nhiên đòi hỏi phải có sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền, kéo theo các thủ tục hành chính về xem xét, chấp thuận. Tuy nhiên, Dự thảo chưa đề cập đến quy trình, thủ tục này.

VCCI đề nghị Ban soạn thảo bổ sung giải trình rõ hơn về các nội dung nêu trên nhằm đảm bảo tính hoàn chỉnh và khả thi của chính sách.

2. Về Chính sách 2: Hoàn thiện quy định mang tính nguyên tắc để làm cơ sở cho việc đấu tranh, phòng ngừa tội phạm và xây dựng các chương, điều cụ thể trong BLHS

Dự thảo đề xuất mở rộng phạm vi chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi chuẩn bị phạm tội ngoài 25/315 tội danh theo quy định hiện hành, đối với các tội có tính nguy hiểm cao cho xã hội. Đây là chính sách theo hướng tăng thêm trách nhiệm hình sự, có tác động trực tiếp đến các cá nhân và tổ chức.

VCCI nhận thấy Dự thảo chưa nêu rõ dự kiến các tội danh cụ thể nào sẽ được mở rộng phạm vi chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi chuẩn bị phạm tội. Việc thiếu thông tin này khiến các bên liên quan chưa có đủ cơ sở để đánh giá tính hợp lý và mức độ tác động của đề nghị chính sách.

Đồng thời, cần lưu ý rằng ở các nước phát triển, xu hướng chung trong lĩnh vực kinh tế là thu hẹp phạm vi hình sự hóa (decriminalization) thay vì mở rộng. Việc mở rộng phạm vi “chuẩn bị phạm tội” cần được thực hiện trên cơ sở đánh giá tác động cụ thể, có danh mục tội danh dự kiến rõ ràng để các bên liên quan có thể góp ý một cách thực chất.

VCCI đề nghị Ban soạn thảo bổ sung nội dung về dự kiến các tội danh sẽ được mở rộng phạm vi chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi chuẩn bị phạm tội, kèm theo đánh giá tác động đối với việc mở rộng này.

3. Về Chính sách 5: Bổ sung các tội danh mới, các hành vi mới để bảo đảm tính bao quát, toàn diện của BLHS

3.1. Ghi nhận các đề xuất hợp lý

VCCI ghi nhận rằng nhiều đề xuất trong Chính sách 5 là cần thiết và hợp lý, đặc biệt các hành vi phục vụ nội luật hóa điều ước quốc tế và đấu tranh với tội phạm công nghệ cao, bao gồm: hình sự hóa hành vi vi phạm bí mật thương mại (theo cam kết CPTPP); bổ sung tội cướp có vũ trang chống lại tàu thuyền trên biển; sửa đổi tội khủng bố, tài trợ khủng bố theo khuyến nghị FATF/APG; bổ sung hành vi phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt; mở rộng hành vi rửa tiền; bổ sung tội khai thác thủy sản trái phép ở vùng biển nước ngoài (IUU); các hành vi xâm phạm dữ liệu cá nhân, deepfake, gián điệp mạng. Tuy nhiên, ngay cả với các hành vi này, cấu thành tội phạm cần được mô tả cụ thể, rõ ràng, tránh quy định theo kiểu liệt kê chung chung.

Bên cạnh đó, một số đề xuất bổ sung hành vi mới liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh cần được cân nhắc kỹ lưỡng hơn, cụ thể như sau:

3.2. Về hành vi thiết lập hệ thống để cung cấp trái phép dịch vụ phát thanh, truyền hình trên mạng internet

Về bản chất, đây là hành vi kinh doanh ngành nghề có điều kiện mà không đáp ứng điều kiện kinh doanh, tức là vi phạm quy định về giấy phép. Cần nhắc lại rằng Bộ luật Hình sự 2015 đã bỏ “tội kinh doanh trái phép” (Điều 159 Bộ luật Hình sự 1999), đánh dấu bước tiến lớn trong tư duy lập pháp, phù hợp với quyền tự do kinh doanh được hiến định tại Điều 33 Hiến pháp 2013 và tinh thần của Luật Doanh nghiệp khi không còn ghi ngành nghề đăng ký kinh doanh trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

Hành vi nêu trên có tính chất tương đương với hành vi kinh doanh ngành nghề kinh doanh có điều kiện nhưng không đáp ứng điều kiện kinh doanh, không có giấy phép. Việc bổ sung hành vi này vào Bộ luật Hình sự có thể được hiểu là đưa “tội kinh doanh trái phép” quay trở lại dưới hình thức khác. Trong khi đó, pháp luật về phát thanh, truyền hình đã có chế tài xử lý hành chính và chưa có đánh giá nào cho thấy chế tài hành chính hiện hành là không đủ để xử lý.

Ở hầu hết các nước OECD, vi phạm điều kiện kinh doanh được xử lý bằng biện pháp hành chính (thu hồi giấy phép, phạt tiền, buộc ngừng hoạt động), chỉ hình sự hóa khi có yếu tố gian lận, lừa đảo hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho người tiêu dùng. Nghị quyết 68 chỉ đạo “ưu tiên áp dụng các biện pháp về dân sự, kinh tế, hành chính trước” và Nghị quyết 66 yêu cầu “dứt khoát từ bỏ tư duy không quản được thì cấm”.

VCCI đề nghị cân nhắc loại bỏ đề xuất này khỏi Chính sách 5. Trong trường hợp cần tăng cường quản lý, giải pháp phù hợp hơn là hoàn thiện chế tài hành chính trong pháp luật chuyên ngành về phát thanh, truyền hình.

3.3. Về hành vi trái phép liên quan đến hoạt động kinh doanh, giao dịch tiền ảo, tiền kỹ thuật số, tài sản ảo

Đây là lĩnh vực mà khung pháp lý quản lý còn đang trong quá trình xây dựng. Luật Công nghiệp Công nghệ số mới định nghĩa “tài sản số” nhưng chưa có khung pháp lý hoàn chỉnh về kinh doanh, giao dịch trong lĩnh vực này. Khi chưa có quy định rõ ràng về hành vi nào là “hợp pháp” và hành vi nào là “trái phép”, việc hình sự hóa hành vi “trái phép” sẽ tạo ra rủi ro pháp lý rất lớn cho doanh nghiệp fintech, sàn giao dịch và nhà đầu tư. Mô tả hành vi trong Dự thảo cũng còn rất chung chung, chưa xác định rõ hành vi cụ thể, mức độ và hậu quả.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy các nước tiên tiến như Singapore, Nhật Bản, EU đều xây dựng khung pháp lý quản lý trước (cấp phép, đăng ký, cơ chế thử nghiệm sandbox), sau đó mới hình sự hóa các hành vi vi phạm nghiêm trọng đã được định nghĩa rõ. Không quốc gia nào hình sự hóa “hành vi trái phép” trong lĩnh vực mà bản thân khung pháp lý quản lý chưa tồn tại hoàn chỉnh.

VCCI đề nghị chỉ hình sự hóa các hành vi trong lĩnh vực này sau khi đã có khung pháp lý quản lý hoàn chỉnh. Trong giai đoạn hiện tại, các hành vi lừa đảo, chiếm đoạt tài sản thông qua tiền ảo hoàn toàn có thể xử lý theo các tội danh hiện hành như Điều 174 (lừa đảo chiếm đoạt tài sản) và Điều 290 (sử dụng mạng máy tính để chiếm đoạt tài sản).

3.4. Về hành vi vi phạm quy định về định giá, kiểm toán, kiểm định, giám định

Dự thảo đề xuất bổ sung tội danh độc lập cho hành vi vi phạm trong các lĩnh vực này, tuy nhiên chưa mô tả cấu thành tội phạm cụ thể. Lĩnh vực định giá, kiểm toán, kiểm định, giám định liên quan đến hàng chục nghìn doanh nghiệp và cá nhân hành nghề. Cần lưu ý rằng sai sót chuyên môn (professional negligence) và hành vi cố ý gian dối (fraud) có bản chất hoàn toàn khác nhau. Nếu không phân biệt rõ hai loại hành vi này, sai sót chuyên môn thông thường cũng có thể bị hình sự hóa, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động hành nghề chuyên môn.

Ở nhiều nước, vi phạm trong kiểm toán, định giá chủ yếu được xử lý bằng trách nhiệm dân sự (bồi thường thiệt hại) và xử lý hành chính (thu hồi chứng chỉ hành nghề, phạt tiền), chỉ hình sự hóa khi có yếu tố cố ý gian lận hoặc thông đồng gây thiệt hại nghiêm trọng.

VCCI đề nghị nếu bổ sung tội danh này, cần mô tả rõ: (i) hành vi khách quan cụ thể; (ii) yếu tố lỗi, theo hướng chỉ xử lý hình sự đối với hành vi cố ý, không xử lý hình sự đối với hành vi vô ý; (iii) hậu quả tối thiểu để cấu thành tội phạm; (iv) ranh giới phân biệt rõ ràng với trách nhiệm dân sự và trách nhiệm hành chính.

3.5. Về các hành vi trong lĩnh vực ngân hàng như bảo lãnh tín dụng, quản lý tài sản bảo đảm, quản lý khoản vay sau giải ngân

Đây là các hoạt động nghiệp vụ ngân hàng thông thường. Vi phạm trong các hoạt động này có thể phát sinh do sai sót quy trình, thiếu năng lực quản lý hoặc do cố ý. Dự thảo liệt kê các hoạt động nhưng chưa mô tả hành vi phạm tội cụ thể. Trong khi đó, Điều 206 Bộ luật Hình sự hiện hành đã quy định “Tội vi phạm quy định về hoạt động ngân hàng, hoạt động khác liên quan đến hoạt động ngân hàng”. Việc bổ sung thêm các hành vi cần được luận giải trên cơ sở Điều 206 hiện hành thực sự không đủ để xử lý, chứ không chỉ vì chưa liệt kê đầy đủ.

Từ góc nhìn thực tiễn, nếu quy định quá rộng, mọi sai sót trong quản lý khoản vay, quản lý tài sản bảo đảm đều có nguy cơ bị hình sự hóa. Điều này có thể khiến cán bộ ngân hàng e ngại trong việc ra quyết định tín dụng, ảnh hưởng đến dòng chảy tín dụng phục vụ phát triển kinh tế.

VCCI đề nghị cân nhắc theo hướng sửa đổi Điều 206 hiện hành để mô tả cấu thành tội phạm rõ ràng hơn, phân biệt rõ giữa vi phạm hành chính và tội phạm, thay vì bổ sung thêm các hành vi mới với phạm vi rộng.

3.6. Về hành vi sản xuất, buôn bán hàng kém chất lượng

Bộ luật Hình sự hiện hành đã có quy định về “hàng giả” (Điều 192–195). “Hàng kém chất lượng” là khái niệm khác biệt, chỉ hàng thật nhưng không đạt tiêu chuẩn. Ranh giới giữa “kém chất lượng” với “không đạt tiêu chuẩn kỹ thuật” hoặc “sản phẩm lỗi” rất mỏng manh, đặc biệt trong sản xuất công nghiệp khi tỷ lệ sản phẩm lỗi nhất định là không thể tránh khỏi. Khái niệm “hàng kém chất lượng” cũng chưa thực sự đủ rõ để đảm bảo tính chính xác trong áp dụng pháp luật hình sự.

Hầu hết các nước xử lý “hàng kém chất lượng” bằng pháp luật bảo vệ người tiêu dùng (trách nhiệm sản phẩm) và xử phạt hành chính (thu hồi sản phẩm, phạt tiền), chỉ hình sự hóa khi có yếu tố cố ý lừa dối hoặc gây nguy hiểm nghiêm trọng cho sức khỏe, tính mạng.

VCCI đề nghị cân nhắc không bổ sung tội danh riêng cho hành vi này. Trong trường hợp hàng kém chất lượng gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tính mạng, hoàn toàn có thể xử lý theo các tội danh hiện hành như Điều 317 (vi phạm quy định về an toàn thực phẩm) hoặc Điều 360 (thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng).

3.7. Về hành vi gây ra trái phép tiếng ồn, độ rung và mùi vượt tiêu chuẩn

Đây là vi phạm môi trường phổ biến trong hoạt động sản xuất công nghiệp, xây dựng, giao thông. Trên thực tế, sẽ có trường hợp tổ chức, cá nhân gây ra tiếng ồn, độ rung và mùi vượt mức tiêu chuẩn nhưng chưa đến mức gây hại cho xã hội hoặc gây ra hậu quả rõ ràng. Luật Bảo vệ môi trường và pháp luật xử lý vi phạm hành chính hiện hành đã có chế tài xử lý bao gồm phạt tiền, buộc khắc phục và đình chỉ hoạt động.

Ở EU, vi phạm về tiếng ồn, độ rung, mùi được xử lý chủ yếu bằng biện pháp hành chính và dân sự (bồi thường thiệt hại cho người bị ảnh hưởng), chỉ hình sự hóa khi vi phạm có hệ thống, cố ý và gây hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe cộng đồng.

VCCI đề nghị cân nhắc không hình sự hóa hành vi này ở mức cơ bản. Trong trường hợp cần thiết, có thể bổ sung như tình tiết tăng nặng trong tội gây ô nhiễm môi trường (Điều 235) khi hành vi được thực hiện có hệ thống, cố ý và gây hậu quả nghiêm trọng.

3.8. Nhận xét chung về Chính sách 5

Việc bổ sung mới các hành vi vào Bộ luật Hình sự sẽ tác động rất lớn đến quyền con người, quyền công dân và ảnh hưởng tới môi trường đầu tư kinh doanh khi đặt các pháp nhân thương mại vào những rủi ro pháp lý mới. Nghị quyết 68-NQ/TW đã nêu rất rõ tinh thần không hình sự hóa các quan hệ kinh tế, ưu tiên áp dụng các biện pháp dân sự, kinh tế, hành chính trước, và trong trường hợp thực tiễn áp dụng pháp luật có thể dẫn đến xử lý hình sự hoặc không xử lý hình sự thì kiên quyết không áp dụng xử lý hình sự.

VCCI đề nghị Ban soạn thảo rà soát lại Chính sách 5 theo hướng tách thành hai nhóm rõ ràng: nhóm thứ nhất gồm các hành vi phục vụ nội luật hóa điều ước quốc tế và đấu tranh với tội phạm công nghệ cao, nên được ưu tiên hoàn thiện; nhóm thứ hai gồm các hành vi kinh tế mới, cần được đánh giá tác động kỹ lưỡng hơn, loại bỏ các đề xuất chưa rõ ràng, phạm vi quá rộng, có tính chất “tội kinh doanh trái phép” hoặc có sự chồng lấn với các tội phạm đã có trong Bộ luật Hình sự. Mọi đề xuất hình sự hóa hành vi mới cần trả lời được câu hỏi: biện pháp hành chính, dân sự, kỷ luật đã thực sự không đủ để xử lý chưa? Đây chính là nguyên tắc “xử lý hình sự là biện pháp cuối cùng” mà Nghị quyết 68 đã khẳng định.

4. Về Chính sách 6: Mở rộng trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại

VCCI ghi nhận rằng việc mở rộng trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại là xu hướng có cơ sở và đã được nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng. Bộ luật Hình sự 2015 lần đầu tiên quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại với 33 tội danh, chủ yếu thuộc nhóm tội về môi trường và kinh tế. Dự thảo đề xuất mở rộng đáng kể sang các nhóm tội về thuế, lao động, tài chính, bảo hiểm, tài sản (cho vay lãi nặng, lừa đảo chiếm đoạt tài sản) và sử dụng đất đai. Tuy nhiên, từ góc nhìn cộng đồng doanh nghiệp và nhà đầu tư, VCCI nhận thấy có bốn vấn đề lớn cần được cân nhắc kỹ lưỡng trước khi mở rộng phạm vi.

4.1. Về ranh giới giữa lỗi của cá nhân và lỗi của pháp nhân

Điều 75 Bộ luật Hình sự hiện hành quy định pháp nhân thương mại chỉ chịu trách nhiệm hình sự khi hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân, vì lợi ích của pháp nhân, có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân và chưa hết thời hiệu truy cứu. Trên thực tế, trong nhiều vụ án kinh tế, ranh giới giữa hành vi cá nhân lãnh đạo doanh nghiệp vì lợi ích cá nhân và hành vi nhân danh doanh nghiệp vì lợi ích doanh nghiệp rất khó phân định. Khi mở rộng sang các tội như lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cho vay lãi nặng, vi phạm đất đai – vốn thường gắn với hành vi cá nhân – nguy cơ quy kết sai cho pháp nhân hoặc ngược lại, cá nhân sử dụng pháp nhân làm “bình phong” để trốn tránh trách nhiệm, sẽ tăng lên đáng kể.

Bản thân Báo cáo đánh giá tác động của Bộ Công an cũng đã nhận diện rằng quy định tại điểm a và điểm c khoản 1 Điều 76 hiện hành “chưa độc lập với nhau, có sự trùng lặp trong nội hàm”. Điều này cho thấy cơ chế quy trách nhiệm hiện tại vẫn còn những điểm cần hoàn thiện.

VCCI đề nghị Ban soạn thảo cân nhắc hoàn thiện cơ chế quy trách nhiệm tại Điều 75-76 trước khi mở rộng phạm vi tội danh, trong đó làm rõ tiêu chí xác định khi nào hành vi là “của pháp nhân” và khi nào là “của cá nhân”, nhằm đảm bảo việc mở rộng được thực hiện trên nền tảng pháp lý vững chắc.

4.2. Về nguy cơ gây “thiệt hại kép” cho người lao động và cổ đông vô can

Hình phạt đối với pháp nhân thương mại theo Điều 33 Bộ luật Hình sự bao gồm phạt tiền, đình chỉ hoạt động có thời hạn, đình chỉ hoạt động vĩnh viễn, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực và cấm huy động vốn. Khi một doanh nghiệp bị đình chỉ hoạt động hoặc chịu hình phạt tiền lớn, người chịu hậu quả trực tiếp không chỉ là người quản lý đã thực hiện hành vi phạm tội mà còn là hàng nghìn người lao động có nguy cơ mất việc làm, cổ đông thiểu số không tham gia quyết định nhưng mất vốn, đối tác và nhà cung cấp bị đứt gãy chuỗi cung ứng, cũng như khách hàng bị ảnh hưởng dịch vụ. Khi mở rộng sang các tội có khung hình phạt nặng như lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay cho vay lãi nặng, hình phạt đối với pháp nhân có thể rất nghiêm khắc, gây hiệu ứng lan tỏa tiêu cực lên toàn bộ hệ sinh thái kinh tế xung quanh doanh nghiệp đó.

Nhiều quốc gia như Anh, Pháp, Mỹ đã phát triển cơ chế Deferred Prosecution Agreement (DPA) – thỏa thuận hoãn truy tố có điều kiện dành riêng cho pháp nhân, cho phép doanh nghiệp nộp phạt, khắc phục hậu quả, cải tổ quản trị mà không bị truy tố chính thức, qua đó bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động và cổ đông vô can. Dự thảo Bộ luật Hình sự Việt Nam chưa có cơ chế tương tự dành cho pháp nhân.

VCCI đề nghị Ban soạn thảo cân nhắc khi mở rộng trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại, đồng thời xây dựng cơ chế hoãn truy cứu hoặc miễn trách nhiệm hình sự có điều kiện dành riêng cho pháp nhân (tương tự DPA), cũng như quy định nghĩa vụ bảo vệ quyền lợi người lao động và cổ đông thiểu số trong quá trình xử lý hình sự pháp nhân.

4.3. Về việc thiếu cơ chế “phòng vệ bằng tuân thủ” (compliance defense)

Dự thảo mở rộng phạm vi trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại nhưng chưa bổ sung bất kỳ cơ chế nào cho phép doanh nghiệp chứng minh đã có chương trình tuân thủ nội bộ hiệu quả để được xem xét giảm nhẹ hoặc miễn trách nhiệm hình sự. Đây là một khoảng trống đáng lưu ý khi so sánh với thông lệ quốc tế.

Nếu không có cơ chế phòng vệ bằng tuân thủ, doanh nghiệp đầu tư nguồn lực lớn cho hệ thống kiểm soát nội bộ và tuân thủ pháp luật nhưng khi một cá nhân trong doanh nghiệp vi phạm, doanh nghiệp vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự như doanh nghiệp không có bất kỳ biện pháp phòng ngừa nào. Điều này không khuyến khích văn hóa tuân thủ và chưa thực sự công bằng.

VCCI đề nghị Ban soạn thảo cân nhắc bổ sung quy định cho phép pháp nhân thương mại được xem xét giảm nhẹ hoặc miễn trách nhiệm hình sự nếu chứng minh đã xây dựng và vận hành hiệu quả chương trình tuân thủ nội bộ phù hợp với quy mô và lĩnh vực hoạt động. Quy định này sẽ tạo động lực mạnh mẽ để doanh nghiệp chủ động phòng ngừa vi phạm, phù hợp với mục tiêu phòng ngừa tội phạm mà Bộ luật Hình sự hướng tới.

4.4. Về tác động đến môi trường đầu tư và xếp hạng tín nhiệm quốc gia

Việc mở rộng trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại sang nhiều lĩnh vực mới, nếu không được thiết kế cẩn trọng, có thể làm tăng rủi ro pháp lý cho nhà đầu tư nước ngoài (đặc biệt khi họ đầu tư thông qua pháp nhân Việt Nam), ảnh hưởng đến xếp hạng môi trường kinh doanh nếu bị đánh giá là hình sự hóa quá mức, và tạo tâm lý e ngại trong cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt doanh nghiệp tư nhân – đối tượng mà Nghị quyết 68 muốn khuyến khích phát triển.

Cần lưu ý rằng Nghị quyết 68 chỉ đạo “bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội”, “tránh ảnh hưởng đến uy tín, hoạt động sản xuất kinh doanh bình thường của doanh nghiệp”. Tuy nhiên, bản thân việc bị khởi tố hình sự – dù chưa bị kết án – đã có thể khiến doanh nghiệp mất đối tác, mất tín dụng ngân hàng và mất cơ hội kinh doanh.

VCCI đề nghị việc mở rộng trách nhiệm hình sự pháp nhân nên đi kèm với đánh giá tác động đến môi trường đầu tư. Đồng thời, cần quy định rõ cơ chế bảo vệ hoạt động kinh doanh bình thường của doanh nghiệp trong quá trình điều tra, truy tố, ví dụ như hạn chế phong tỏa tài sản vượt quá mức cần thiết và không công bố thông tin trước khi có kết luận chính thức.

III. KIẾN NGHỊ TỔNG THỂ

Trên cơ sở các phân tích nêu trên, VCCI trân trọng kiến nghị Ban soạn thảo cân nhắc một số nguyên tắc xuyên suốt trong quá trình hoàn thiện Hồ sơ chính sách Bộ luật Hình sự (sửa đổi):

Thứ nhất, mọi đề xuất hình sự hóa hành vi mới cần trả lời được câu hỏi: biện pháp hành chính, dân sự, kỷ luật đã thực sự không đủ để xử lý chưa? Đây chính là nguyên tắc “xử lý hình sự là biện pháp cuối cùng” mà Nghị quyết 68 và Báo cáo chính trị Đại hội XIV đã khẳng định.

Thứ hai, cấu thành tội phạm của các hành vi mới cần được mô tả cụ thể, rõ ràng, đảm bảo nguyên tắc minh bạch pháp lý, tránh quy định theo kiểu liệt kê chung chung hoặc phạm vi quá rộng.

Thứ ba, việc mở rộng trách nhiệm hình sự (cả đối với cá nhân và pháp nhân) cần đi kèm với đánh giá tác động toàn diện đến môi trường đầu tư kinh doanh, quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, cổ đông và các bên liên quan.

Thứ tư, nghiên cứu bổ sung các cơ chế tiến bộ phù hợp với thông lệ quốc tế như cơ chế hoãn truy cứu có điều kiện cho pháp nhân (Deferred Prosecution Agreement) và cơ chế phòng vệ bằng tuân thủ (compliance defense), nhằm vừa đảm bảo hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm, vừa khuyến khích văn hóa tuân thủ trong cộng đồng doanh nghiệp.

Trên đây là một số ý kiến góp ý của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đối với Dự thảo Hồ sơ chính sách Bộ luật Hình sự (sửa đổi). VCCI rất mong quý Cơ quan cân nhắc để chỉnh sửa, hoàn thiện, hướng tới một Bộ luật Hình sự vừa bảo đảm hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm, vừa tạo môi trường pháp lý an toàn, minh bạch, khuyến khích đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tế.

Trân trọng cảm ơn sự hợp tác của quý Cơ quan.

Các văn bản liên quan