Góp ý Dự thảo Thông tư quy định tiêu chuẩn và quản lý hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan

Thứ Hai 16:15 15-06-2026

Kính gửi: Cục Hải quan, Bộ Tài chính

          Trả lời Công văn số 17350/CHQ-GSQL ngày 10 tháng 6 năm 2026 của Quý Cơ quan về việc lấy ý kiến đối với Dự thảo Thông tư quy định tiêu chuẩn hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan; tiêu chuẩn nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan; tổ chức thi, cấp chứng chỉ nghiệp vụ khai hải quan; quản lý hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan, nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan (sau đây gọi tắt là Dự thảo), Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) ghi nhận và đánh giá cao nỗ lực của Cục Hải quan và Bộ Tài chính trong việc khẩn trương xây dựng Dự thảo nhằm thể chế hóa kịp thời chủ trương cải cách quan trọng tại Luật Đầu tư số 143/2025/QH15 và Nghị quyết số 66.18/2026/NQ-CP ngày 18/5/2026 của Chính phủ về phân quyền, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh. Trên tinh thần đồng hành cùng Cơ quan soạn thảo để hoàn thiện thể chế, bảo đảm Dự thảo bám sát đúng bản chất cải cách, vừa tạo thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp vừa giữ vững yêu cầu quản lý nhà nước, VCCI xin tham gia một số ý kiến cụ thể như sau:

  1. Về cơ chế “thông báo, hậu kiểm” và việc cấp quyền truy cập hệ thống (Điều 7 và khoản 2 Điều 11)

Theo khoản 3 và khoản 4 Điều 7 Dự thảo, doanh nghiệp gửi văn bản thông báo kèm đề nghị “cấp quyền hoạt động”; trong thời hạn 10 ngày làm việc, nếu doanh nghiệp đáp ứng tiêu chuẩn thì Cục Hải quan cấp mã số nhân viên và “cấp quyền đại lý trên hệ thống”, sau đó doanh nghiệp mới được hoạt động. VCCI nhận thấy cách thiết kế này, dù trên danh nghĩa là “thông báo”, lại đặt việc cơ quan hải quan chủ động cấp quyền làm điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp được hoạt động – tức là vẫn mang dáng dấp của cơ chế tiền kiểm, cấp phép mà Luật Đầu tư năm 2025 và Nghị quyết số 66.18/2026/NQ-CP hướng tới bãi bỏ.

Đối chiếu với khoản 2 Điều 7 Luật Đầu tư số 143/2025/QH15, dịch vụ khai hải quan đã không còn trong Danh mục ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, và điều luật này khẳng định rõ “Bộ, cơ quan ngang Bộ … không được ban hành quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh”. Mục II phần A Phụ lục I.7 Nghị quyết số 66.18/2026/NQ-CP cũng xác lập mô hình: doanh nghiệp chỉ có nghĩa vụ thông báo; nếu trong thời hạn 10 ngày làm việc cơ quan hải quan không phản hồi về việc không đáp ứng tiêu chuẩn thì doanh nghiệp được thực hiện và tự chịu trách nhiệm. Do đó, việc vận hành các “tiêu chuẩn” như một phương thức phê duyệt trước tại Dự thảo là chưa phù hợp với các văn bản quy phạm pháp luật cấp trên nêu trên.

Mặt khác, VCCI cũng nhìn nhận đặc thù trong hoạt động khai hải quan là bắt buộc phải kết nối Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan, nên việc kích hoạt tài khoản kết nối là một thao tác kỹ thuật do cơ quan hải quan thực hiện; do đó cơ chế “im lặng là đương nhiên được hoạt động” khó khả thi nếu hệ thống chưa được kích hoạt. Giải pháp hợp lý là vừa giữ đúng bản chất hậu kiểm, vừa ràng buộc chặt chẽ trách nhiệm, thời hạn của cơ quan quản lý.

Trên cơ sở đó, VCCI đề nghị khẳng định rõ trong Dự thảo nguyên tắc: việc bảo đảm các tiêu chuẩn hoạt động được thực hiện chủ yếu thông qua phương thức hậu kiểm. Đồng thời, quy định việc kích hoạt quyền truy cập hệ thống là một nghĩa vụ công vụ có thời hạn cứng, theo hướng:

Trong thời hạn tối đa 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo, Cục Hải quan phải hoàn thành việc cấp mã số và kích hoạt quyền truy cập hệ thống cho doanh nghiệp. Trường hợp doanh nghiệp không đáp ứng tiêu chuẩn thì phải có văn bản từ chối nêu rõ lý do dựa trên căn cứ cụ thể và hướng dẫn doanh nghiệp khắc phục trong cùng thời hạn.

Cùng với đó, để bảo vệ quyền lợi thực chất của doanh nghiệp, đề nghị bổ sung nguyên tắc thời hạn sử dụng mã số nhân viên (03 năm) được tính từ ngày cơ quan hải quan thực tế hoàn thành việc kích hoạt quyền trên hệ thống, không tính từ ngày gửi thông báo.

  1. Về tiêu chuẩn trình độ (bằng cấp) đối với nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan (điểm b khoản 2 Điều 3 và khoản 1 Điều 5)

Điểm b khoản 2 Điều 3 Dự thảo yêu cầu nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan phải “có trình độ cao đẳng trở lên”, và khoản 1 Điều 5 yêu cầu người đăng ký dự thi phải có bằng tốt nghiệp trình độ cao đẳng trở lên. VCCI cho rằng yêu cầu bằng cấp tối thiểu này mang bản chất của một điều kiện gia nhập, trong khi năng lực chuyên môn của nhân viên đã được bảo đảm thông qua Chứng chỉ nghiệp vụ khai hải quan (cấp sau khi vượt qua kỳ thi) và chương trình cập nhật kiến thức bắt buộc; việc đặt thêm yêu cầu về bằng cấp vì vậy là trùng lặp và loại trừ nhiều cá nhân có bề dày kinh nghiệm trong lĩnh vực xuất nhập khẩu.

Đáng lưu ý, có sự thiếu thống nhất giữa Dự thảo Tờ trình của Cục Hải quan gửi Bộ Tài chính và nội dung Dự thảo: Tờ trình khẳng định đã bỏ quy định về chuyên ngành đào tạo và mô tả tiêu chuẩn nhân viên không còn yêu cầu về bằng cấp, song điểm b khoản 2 Điều 3 vẫn giữ “trình độ cao đẳng trở lên”. Đối chiếu với khoản 2 Điều 7 Luật Đầu tư số 143/2025/QH15 – dịch vụ khai hải quan không còn là ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và Bộ, cơ quan ngang Bộ không được ban hành quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh – việc đặt yêu cầu bằng cấp tại Thông tư càng cần được cân nhắc thận trọng. Thực tế, chính Tờ trình nêu mục tiêu tháo gỡ cho các cá nhân đã có chứng chỉ (đặc biệt được cấp trước năm 2015) nhưng không có bằng cao đẳng đúng chuyên ngành, trong khi quy định hiện tại lại tiếp tục loại trừ nhóm đối tượng này.

Do đó, VCCI đề nghị bỏ yêu cầu “trình độ cao đẳng trở lên” tại điểm b khoản 2 Điều 3 Dự thảo và bỏ điều kiện bằng tốt nghiệp cao đẳng khi dự thi tại khoản 1 Điều 5 Dự thảo. Thống nhất lấy Chứng chỉ nghiệp vụ khai hải quan làm thước đo chuẩn mực duy nhất và hợp pháp để công nhận năng lực hành nghề của nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan.

  1. Về căn cứ và thủ tục tạm dừng hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan (Điều 8)

Điểm a khoản 1 Điều 8 Dự thảo cho phép tạm dừng hoạt động đại lý (tối đa 06 tháng) trong nhiều trường hợp, trong đó tiết a.2 – “không thực hiện đúng trách nhiệm, nghĩa vụ của đại lý làm thủ tục hải quan theo quy định tại Thông tư này và các quy định pháp luật khác về hải quan” – có phạm vi quá rộng. Cách diễn đạt này khiến hầu như bất kỳ thiếu sót nào cũng có thể trở thành căn cứ tạm dừng, trao quyền tùy nghi rất lớn cho cơ quan thực thi và dễ dẫn đến áp dụng không thống nhất.

Trong khi đó, hệ quả của việc tạm dừng là đặc biệt nặng nề: trong thời gian tối đa 06 tháng, đại lý không được cung cấp dịch vụ, đồng nghĩa với việc mất khách hàng, mất doanh thu và làm gián đoạn chuỗi cung ứng của chủ hàng. Mức độ này không tương xứng với nhiều lỗi mang tính hành chính – chẳng hạn việc chậm cập nhật thay đổi địa chỉ vốn đã được điều chỉnh bằng nghĩa vụ thông báo trong 05 ngày làm việc tại khoản 5 Điều 7 Dự thảo, nhưng theo tiết a.1 vẫn có thể dẫn đến tạm dừng. Dự thảo cũng chưa quy định cơ chế cảnh báo và thời hạn khắc phục trước khi tạm dừng đối với các lỗi không nghiêm trọng (thời hạn 06 tháng khắc phục chỉ phát sinh sau khi đã tạm dừng).

Vì vậy, VCCI đề nghị thu hẹp và lượng hóa căn cứ tại tiết a.2 theo hướng chỉ liệt kê cụ thể các vi phạm nghiêm trọng hoặc lặp lại; đồng thời bổ sung nguyên tắc tương xứng và quy trình xử lý theo cấp độ, theo đó đối với các lỗi không nghiêm trọng, trước khi tạm dừng phải có thông báo yêu cầu khắc phục kèm thời hạn hợp lý, và chỉ áp dụng tạm dừng khi doanh nghiệp không khắc phục hoặc đối với vi phạm nghiêm trọng. Cách tiếp cận này giúp phân định rõ giữa lỗi hành chính và vi phạm nghiêm trọng.

  1. Về việc hủy bỏ Chứng chỉ nghiệp vụ khai hải quan và cấm hành nghề (khoản 4 Điều 6 và điểm g khoản 6 Điều 11)

Theo quy định tại điểm g khoản 6 Điều 11 Dự thảo, khi nhân viên bị hủy bỏ mã số do thuộc các trường hợp tại điểm a, b, c, d khoản 6 Điều 11 thì đồng thời bị hủy bỏ giá trị Chứng chỉ nghiệp vụ khai hải quan, không được cấp lại mã số trong thời hạn 03 năm, và doanh nghiệp do cá nhân đó đứng tên thành lập cũng không được hoạt động đại lý hải quan. VCCI đánh giá việc gắn hủy bỏ Chứng chỉ và cấm hành nghề với vi phạm trong quá trình hoạt động là chưa bảo đảm tính tương xứng do:

Thứ nhất, chứng chỉ là văn bằng chứng nhận năng lực chuyên môn đạt được qua kỳ thi, có bản chất khác với mã số (vốn là điều kiện hành nghề), vì vậy việc hủy bỏ vĩnh viễn Chứng chỉ và buộc cá nhân dự thi lại từ đầu là biện pháp rất nặng.

Thứ hai, một số căn cứ kéo theo hệ quả nặng nhưng bản chất chỉ là lỗi hành chính, sơ suất – chẳng hạn điểm d khoản 6 Điều 11 Dự thảo (sử dụng mã số đã hết thời hạn hiệu lực) thường phát sinh do quên gia hạn nhưng vẫn dẫn đến hủy bỏ Chứng chỉ và cấm 03 năm.

Trên cơ sở đó, VCCI đề nghị cấu trúc lại nội dung này theo hướng tách bạch hai nhóm:

Một là, chỉ hủy bỏ giá trị Chứng chỉ đối với các hành vi gian lận trong việc dự thi hoặc được cấp Chứng chỉ (đã được quy định tại điểm a, b, c khoản 4 Điều 6 Dự thảo), không hủy bỏ Chứng chỉ đối với các vi phạm phát sinh trong quá trình hoạt động;

Hai là, đối với vi phạm nghiêm trọng (áp dụng theo pháp luật hình sự và pháp luật về xử lý vi phạm hành chính), chỉ nên quy định việc hủy bỏ, thu hồi mã số ở mức tương xứng; đưa hành vi “sử dụng mã số đã hết thời hạn hiệu lực” ra khỏi nhóm dẫn đến hủy Chứng chỉ và cấm hành nghề, chuyển sang xử lý bằng biện pháp nhắc nhở, khắc phục.

  1. Về thủ tục khi nhân viên đại lý thay đổi nơi làm việc (khoản 1 Điều 4 và điểm đ khoản 6 Điều 11)

Khoản 1 Điều 4 Dự thảo quy định khi nhân viên chuyển sang làm việc cho đại lý làm thủ tục hải quan khác thì phải thực hiện hủy bỏ mã số đã được cấp trước đó và cấp mã số mới tại đại lý mới; đồng thời, điểm đ khoản 6 Điều 11 Dự thảo cũng xác định việc nhân viên chuyển sang làm việc cho đại lý khác là một trường hợp mã số bị hủy bỏ. Trong khi đó, mã số nhân viên đại lý trùng với số căn cước công dân, gắn liền với cá nhân chứ không gắn với doanh nghiệp, và các thông tin về năng lực của cá nhân đã có sẵn trong cơ sở dữ liệu của cơ quan hải quan. Việc yêu cầu hủy bỏ và cấp mới cho một trường hợp dịch chuyển lao động bình thường sẽ tạo ra thủ tục, thời gian và chi phí không cần thiết.

Từ những phân tích trên, VCCI đề nghị cho phép áp dụng hình thức cập nhật thông tin đại lý chủ quản theo hướng đơn giản: đại lý hải quan mới chỉ cần gửi thông báo tiếp nhận nhân sự (trực tuyến) đến cơ quan hải quan để thực hiện thao tác cập nhật. Trường hợp Cơ quan soạn thảo vẫn bắt buộc phải duy trì hình thức “cấp mới”, đề nghị rút ngắn tối đa thời hạn giải quyết và đơn giản hóa hồ sơ trên cơ sở tận dụng dữ liệu sẵn có.

Từ những góp ý trên, VCCI tin rằng việc hoàn thiện các nội dung tại Dự thảo có ý nghĩa quan trọng đối với môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là yêu cầu giữ đúng bản chất của cơ chế “thông báo và hậu kiểm” để không tái lập các điều kiện kinh doanh và thủ tục cấp phép đã được Luật Đầu tư số 143/2025/QH15 và Nghị quyết số 66.18/2026/NQ-CP bãi bỏ.

Trên đây là một số ý kiến của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đối với Dự thảo Thông tư quy định tiêu chuẩn hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan; tiêu chuẩn nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan; tổ chức thi, cấp chứng chỉ nghiệp vụ khai hải quan; quản lý hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan, nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan, kính gửi Quý Cơ quan cân nhắc, tiếp thu để hoàn thiện Dự thảo.

Trân trọng cảm ơn sự hợp tác của Quý Cơ quan.

Các văn bản liên quan