Góp ý Dự thảo Thông tư ban hành danh mục sản phẩm, hàng hoá có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công Thương

Thứ Sáu 16:28 08-05-2026

Kính gửi: Bộ Công Thương 

Trả lời Công văn số 2542/BCT-ĐCK ngày 13/4/2026 của Bộ Công Thương về việc đề nghị góp ý Dự thảo Thông tư ban hành danh mục sản phẩm, hàng hoá có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công Thương (sau đây gọi tắt là Dự thảo), trên cơ sở ý kiến của các doanh nghiệp, hiệp hội, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổng hợp ý kiến của các doanh nghiệp như sau:

Việc xây dựng Danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình và mức độ rủi ro cao thuộc phạm lý quản lý của Bộ Công Thương là rất cần thiết. Danh mục này là cơ sở để xác định các cơ chế quản lý phù hợp đối với các loại sản phẩm hàng hóa. Từ đó, vừa bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng, tăng cường tính minh bạch trong hoạt động quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa vừa tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Xuất phát từ tính chất này, việc xác định chính xác các loại hàng hóa với các mức độ rủi ro trong Danh mục là rất quan trọng. 

Một trong những căn cứ quan trọng để xây dựng Danh mục tại Dự thảo là quy định tại Nghị định số 37/2026/NĐ-CP, theo đó việc xác định mức độ rủi ro của sản phẩm, hàng hóa sẽ được thực hiện theo các nguyên tắc: “a) Căn cứ vào bằng chứng khoa học và dữ liệu áp dụng trong thực tiễn; b) Khả năng quản lý của cơ quan nhà nước trong từng thời kỳ; c) Bảo đảm tính minh bạch, khách quan, kế thừa nguyên tắc quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa; d) Bảo đảm nguyên tắc tỷ lệ, yêu cầu quản lý nhà nước phải tương xứng với mức độ rủi ro; đ) Áp dụng nguyên tắc phòng ngừa trong trường hợp có nguy cơ nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng con người, môi trường hoặc an ninh quốc gia mà chưa có đầy đủ bằng chứng khoa học”. 

Đối chiếu với bản Thuyết minh Danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình và mức độ rủi ro cao, có thể thấy một số vấn đề sau:

– Thiếu vắng “các bằng chứng khoa học và dữ liệu áp dụng trong thực tiễn” trong việc xác định các loại hàng hóa trong Danh mục. Bản Thuyết minh chỉ đưa ra các thông tin đánh giá chung về các loại sản phẩm, hàng hóa lĩnh vực công nghiệp được đưa vào Danh mục mà chưa có các số liệu hay bằng chứng khoa học để chứng minh cho các nhận định. Điều này có thể khiến cho việc xác định một số loại hàng hóa trở nên chưa thật sự rõ ràng và thuyết phục;

– Về phương pháp xác định mức độ rủi ro. Bản Thuyết minh chỉ đưa ra công thức tính điểm rủi ro, trong đó đưa ra các cấp độ tác động (C) chung chung cho các sản phẩm, hàng hóa lĩnh vực công nghiệp mà không định lượng, xác định rủi ro cho từng nhóm sản phẩm. Bản Thuyết minh cũng chưa giải trình đầy đủ cách xác định các hệ số và tiêu chí đầu vào trong phương pháp P – C – K, bao gồm cơ sở xác định xác suất phát sinh mối nguy, mức độ hậu quả và hệ số điều chỉnh rủi ro. Khi đối chiếu tại bản thuyết minh danh mục, việc áp dụng phương pháp này chưa được thực hiện đầy đủ và thống nhất, chỉ có 5 nhóm có điểm đánh giá rủi ro: tiền chất thuốc nổ, thuốc nổ công nghiệp, thuốc nổ mạnh, máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, các nhóm còn lại chưa có điểm đánh giá mức độ rủi ro. Điều này khiến cho việc phân loại rủi ro theo nhóm sản phẩm tại Bảng 6 là chưa rõ ràng, thiếu kiểm chứng và rất khó để đánh giá tính phù hợp.

– Đánh giá trong mối tương quan giữa các sản phẩm, hàng hóa. Theo phân loại của Dự thảo cũng như giải trình tại bản Thuyết minh, các loại hàng hóa tiêu dùng phổ thông được xếp vào rủi ro cao, trong khi nhóm có khả năng gây mất an toàn trực tiếp như thuốc nổ lại xếp ở mức rủi ro trung bình. Điều này làm giảm tính logic của toàn bộ hệ thống phân loại và khiến cho việc xác định mức độ rủi ro trở nên chưa rõ ràng về tiêu chí, nguyên tắc xác định. Các doanh nghiệp cho rằng, quản lý rủi ro phải dựa trên khả năng gây hậu quả trực tiếp và mức độ nghiêm trọng khi xảy ra sự cố. Theo đó, các sản phẩm có khả năng gây tác động ngay lập tức, trên diện rộng và khó kiểm soát phải được xếp ở mức độ rủi ro cao nhất, trong khi các tiền chất hoặc sản phẩm trung gian, dù có nguy cơ, nhưng chỉ phát huy rủi ro khi được sử dụng trong điều kiện nhất định, cần được phân loại ở mức thấp hơn.

Việc thiếu rõ ràng các thông tin trên có thể khiến cho việc xác định mức độ rủi ro của sản phẩm, dịch vụ trong Danh mục chưa phù hợp và dẫn tới nguy cơ không xác định đúng trọng tâm quản lý, làm giảm hiệu quả quản lý nhà nước và tăng gánh nặng chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp đối với các nhóm sản phẩm, hàng hóa được xác định nguy cơ cao, nguy cơ trung bình chưa phù hợp. Do cơ chế quản lý đối với các nhóm sản phẩm, hàng hóa này rất chặt chẽ, theo hướng tiền kiểm. Điều này cũng sẽ đi ngược lại chủ trương cải cách thủ tục hành chính, tăng cường hậu kiểm của Chính phủ.

Trên cơ sở quan điểm tiếp cận trên, các doanh nghiệp cho rằng cần đánh giá lại tính phù hợp của các sản phẩm, hàng hóa được xác định trong Danh mục, cụ thể như sau:

1. Về việc phân loại nhóm sữa, thực phẩm chế biến và đồ uống không cồn vào nhóm rủi ro cao

Các doanh nghiệp cho rằng Dự thảo xếp các nhóm sản phẩm như sữa dạng lỏng, sữa dạng bột, sữa lên men, phomat, chất béo từ sữa, sữa chế biến không chứa cacao, dầu thực vật và đồ uống không cồn vào nhóm hàng hóa rủi ro cao là chưa thực sự phù hợp với nguyên tắc đánh giá rủi ro theo Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa và Nghị định số 37/2026/NĐ-CP cũng như các thông lệ quốc tế về quản lý an toàn thực phẩm. Cụ thể:

Thứ nhất, các sản phẩm nêu trên được sản xuất theo quy trình công nghiệp khép kín, áp dụng công nghệ tiệt trùng, thanh trùng, đóng gói kín và các hệ thống quản lý chất lượng như HACCP, ISO, có khả năng kiểm soát cao trong toàn bộ chuỗi sản xuất – lưu thông, do đó xác suất phát sinh sự cố trong điều kiện sử dụng và bảo quản thông thường là rất thấp.

Thứ hai, về phương pháp đánh giá rủi ro định lượng theo hướng dẫn tại Phụ lục VI Nghị định số 37/2026/NĐ-CP và phương pháp P – C – K được nêu trong Dự thảo: 

Dự thảo áp dụng phương pháp đánh giá tổng mức rủi ro dựa trên ba cấu phần chính gồm xác suất xảy ra mối nguy (P), mức độ hậu quả hoặc tác động đối với sức khỏe (C) và khả năng kiểm soát, hệ số điều chỉnh rủi ro trong toàn bộ chuỗi sản xuất – lưu thông (K). Trên cơ sở áp dụng phương pháp này, có thể thấy các sản phẩm như sữa chế biến, đồ uống không cồn và dầu thực vật,… đều có xác suất phát sinh mối nguy thấp, khả năng kiểm soát cao nhờ hệ thống quản lý chất lượng nhiều tầng, cơ chế truy xuất nguồn gốc và kiểm soát toàn chuỗi; đồng thời có hệ số điều chỉnh rủi ro thấp do sản phẩm được tiệt trùng, thanh trùng và đóng gói kín. Theo đó, tổng mức rủi ro của các sản phẩm này chỉ ở mức thấp hoặc thấp – trung bình, chưa tương ứng với việc bị phân loại là “rủi ro cao” trong Dự thảo.

Thứ ba, doanh nghiệp phản ánh thực tiễn an toàn thực phẩm trong nhiều năm cho thấy các vụ ngộ độc thực phẩm quy mô lớn chủ yếu phát sinh từ thực phẩm tươi sống, thực phẩm đường phố hoặc các chuỗi cung ứng nhỏ lẻ, trong khi gần như không ghi nhận sự cố diện rộng liên quan đến các nhóm thực phẩm chế biến, đóng gói ổn định nêu trên. Theo đó, cách tiếp cận hiện nay của Dự thảo đang đánh đồng toàn bộ nhóm “thực phẩm” với nhóm hàng hóa rủi ro cao mà chưa phản ánh đúng sự khác biệt giữa thực phẩm tươi sống, dễ hư hỏng với các sản phẩm chế biến công nghiệp ổn định có nhiều cơ chế kiểm soát nội tại.

Thứ tư, doanh nghiệp cho rằng cách tiếp cận phân loại hàng hóa nêu tại Dự thảo chưa thực sự phù hợp với Codex Alimentarius cũng như thông lệ quản lý của EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản và Trung Quốc. Theo các thông lệ này, việc quản lý rủi ro được thực hiện dựa trên cơ sở đánh giá từng mối nguy cụ thể, mức độ phơi nhiễm thực tế, hậu quả của mối nguy và khả năng kiểm soát trong toàn bộ chuỗi cung ứng, thay vì mặc định toàn bộ nhóm thực phẩm là rủi ro cao. Đối với các sản phẩm thực phẩm chế biến ổn định, cơ chế quản lý tại nhiều quốc gia chủ yếu theo hướng hậu kiểm, giám sát thị trường và quản lý dựa trên mức độ rủi ro thực tế của sản phẩm.

Codex Alimentarius cũng khuyến nghị bảo đảm nguyên tắc tương xứng giữa mức độ rủi ro và biện pháp quản lý nhà nước được áp dụng. Theo đó, cách tiếp cận quản lý rủi ro hiện đại cần được thực hiện trên cơ sở đánh giá, lượng hóa rủi ro đối với từng sản phẩm và từng mối nguy cụ thể trước khi áp dụng biện pháp phân loại và quản lý tương ứng. Trong khi đó, Dự thảo lại có xu hướng phân loại theo nhóm hàng hóa tương đối rộng trước khi thực hiện đánh giá định lượng đầy đủ đối với rủi ro của từng loại sản phẩm. Điều này dẫn đến nguy cơ mở rộng phạm vi hàng hóa thuộc nhóm rủi ro cao vượt quá mức cần thiết.

Thứ năm, doanh nghiệp cho rằng việc chuyển các nhóm sản phẩm nêu trên sang nhóm rủi ro cao có thể dẫn đến phát sinh thêm thủ tục hành chính, làm thay đổi cơ chế quản lý hiện hành từ tự công bố sang cơ chế kiểm soát chặt hơn, phát sinh chi phí tuân thủ và nguy cơ chồng chéo với các quy định hiện hành. Cách tiếp cận này chưa phù hợp với chủ trương cắt giảm thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và tăng cường hậu kiểm của Chính phủ.

Từ các phân tích nêu trên, các doanh nghiệp đề nghị cơ quan soạn thảo:

(i) Loại bỏ các sản phẩm này khỏi Danh mục hàng hóa rủi ro trung bình và rủi ro cao trong trường hợp chưa có cơ sở đánh giá định lượng đầy đủ và phù hợp với hồ sơ rủi ro thực tế của sản phẩm; 

(ii) Cho phép tiếp tục áp dụng cơ chế tự công bố như hiện hành; 

(iii) Thực hiện phân loại rủi ro theo từng sản phẩm cụ thể trên cơ sở đánh giá định lượng, có cơ sở khoa học và phù hợp với phương pháp đánh giá rủi ro tại Phụ lục VI Nghị định số 37/2026/NĐ-CP.

2. Về việc phân loại bia và đồ uống có cồn vào nhóm rủi ro cao

Theo phản ánh của doanh nghiệp, việc Dự thảo xếp bia và đồ uống có cồn vào nhóm hàng hóa rủi ro cao chưa phản ánh đầy đủ bản chất khoa học của sản phẩm, chưa phù hợp với phương pháp đánh giá rủi ro định lượng và chưa tương thích với thông lệ quốc tế về quản lý an toàn thực phẩm, cụ thể: 

Thứ nhất, bia là sản phẩm có mức độ rủi ro vi sinh nội tại rất thấp do đồng thời tồn tại nhiều “rào cản vi sinh” trong quá trình sản xuất và lưu thông. Cụ thể, môi trường pH thấp của bia, hàm lượng ethanol có khả năng ức chế vi sinh vật, iso-alpha acids từ hoa bia có tính kháng khuẩn, quy trình đun sôi nguyên liệu, quy trình thanh trùng, môi trường thiếu oxy sau đóng chai/lon và bao bì đóng kín hoàn toàn tạo ra cơ chế “multiple hurdle effect”, khiến vi sinh vật gây bệnh rất khó tồn tại hoặc phát triển trong bia thành phẩm. Doanh nghiệp đồng thời cho biết quy trình sản xuất bia công nghiệp hiện nay được tiêu chuẩn hóa cao, nguyên liệu đầu vào được kiểm soát chặt chẽ và sản phẩm được sản xuất trong hệ thống khép kín. Theo đó, khả năng phát sinh mối nguy trong điều kiện lưu thông thông thường được đánh giá là thấp.

Thứ hai, trên cơ sở áp dụng công thức đánh giá rủi ro định lượng theo phương pháp P – C – K được nêu trong Dự thảo, sản phẩm bia chỉ thuộc nhóm “rủi ro thấp” với chỉ số R < 4,5. Điều này do xác suất phát sinh mối nguy thấp, khả năng kiểm soát cao, mức độ ổn định vi sinh lớn và nguy cơ phơi nhiễm thực tế thấp trong điều kiện lưu thông bình thường. Như vậy, chưa có đủ cơ sở để xếp bia vào nhóm hàng hóa rủi ro cao.

Thứ ba, theo nội dung giải trình của Bộ Công Thương trong quá trình xây dựng QCVN đối với đồ uống có cồn năm 2026, bia đóng chai/lon đã qua thanh trùng gần như không phát sinh vi khuẩn gây hại trong suốt thời hạn lưu thông. Hơn nữa, đặc tính của bia có khả năng ức chế nhiều loại vi sinh vật; đồng thời sản phẩm có độ ổn định cao nhờ sự kết hợp giữa xử lý nhiệt, môi trường nội tại không thuận lợi cho vi sinh vật và quy trình đóng gói kín. Trong khi đó, hồ sơ thuyết minh của Dự thảo hiện đang tiếp cận theo hướng xác định toàn bộ nhóm thực phẩm là nhóm có mức độ rủi ro cao cần kiểm soát toàn chuỗi (các cột điểm rủi ro cho từng sản phẩm gần như để trống hoàn toàn). Như vậy, cách tiếp cận này chưa thực sự phù hợp, minh bạch và cần tiếp tục được rà soát để bảo đảm phản ánh đầy đủ rủi ro thực tế cũng như đặc tính kỹ thuật riêng của sản phẩm bia.

Thứ tư, các doanh nghiệp cho rằng Dự thảo đang có sự nhầm lẫn giữa rủi ro an toàn thực phẩm nội tại của sản phẩm và rủi ro sức khỏe cộng đồng phát sinh từ hành vi tiêu dùng đồ uống có cồn. Theo đó, cảnh báo của WHO liên quan đến bia chủ yếu xuất phát từ nguy cơ lạm dụng đồ uống có cồn, không phải do mối nguy nội tại về an toàn thực phẩm của sản phẩm bia. Vì vậy, việc sử dụng các cảnh báo sức khỏe cộng đồng liên quan đến hành vi tiêu dùng để làm căn cứ xếp bia vào nhóm rủi ro cao bị cho là chưa phù hợp với nguyên tắc quản lý rủi ro của pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa. 

Trường hợp cơ quan quản lý lựa chọn cách tiếp cận quản lý bia trên cơ sở tác động sức khỏe cộng đồng theo nghĩa rộng thì cần làm rõ cơ sở pháp lý, tiêu chí đánh giá và phương pháp lượng hóa tương ứng, thay vì đồng nhất với rủi ro an toàn thực phẩm nội tại của sản phẩm.

Thứ năm, không có thông lệ quốc tế nào mặc định xếp bia vào nhóm thực phẩm rủi ro cao tương đương với các hàng hóa nguy hiểm đặc biệt như hóa chất nguy hiểm, tiền chất thuốc nổ hoặc vật liệu nổ. Tại EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản và Trung Quốc, bia được quản lý như thực phẩm chế biến ổn định và không bị mặc định phân loại vào nhóm rủi ro cao.

Từ các phân tích nêu trên, các doanh nghiệp đề nghị cơ quan soạn thảo:

(i) Loại bỏ các sản phẩm này khỏi Danh mục hàng hóa rủi ro trung bình và rủi ro cao;

(ii) Bảo đảm việc phân loại rủi ro được thực hiện trên cơ sở dữ liệu định lượng, bằng chứng khoa học, đặc tính thực tế của từng sản phẩm và phù hợp với nguyên tắc đánh giá rủi ro theo Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa, Nghị định số 37/2026/NĐ-CP và Codex Alimentarius.

Trên đây là một số ý kiến ban đầu của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đối với Dự thảo Thông tư ban hành danh mục sản phẩm, hàng hoá có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công Thương. Rất mong cơ quan soạn thảo cân nhắc để chỉnh sửa, hoàn thiện Dự thảo này.

Trân trọng cảm ơn sự hợp tác của Quý Cơ quan./.

Các văn bản liên quan