Góp ý Dự thảo Nghị quyết về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý của Bộ Nông nghiệp và Môi trường

Thứ Ba 16:47 28-04-2026

Kính gửi: Bộ Nông nghiệp và Môi trường

Phúc đáp Công văn số 4122/BNNMT-PC ngày 26/4/2026 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường về việc góp ý hồ sơ 03 dự thảo văn bản quy phạm pháp luật về cắt giảm, phân quyền, phân cấp, đơn giản hoá thủ tục hành chính và cắt giảm, đơn giản hoá điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ, trên cơ sở ý kiến của cộng đồng doanh nghiệp, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) có một số ý kiến góp ý đối với dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính và cắt giảm, đơn giản hoá điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Nông nghiệp và Môi trường (xây dựng, ban hành theo quy định tại khoản 2 Điều 14 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật) như sau:

I. ĐÁNH GIÁ CHUNG

VCCI đánh giá cao nỗ lực của Bộ Nông nghiệp và Môi trường trong việc chủ động, khẩn trương xây dựng dự thảo Nghị quyết nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng và chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hoá thủ tục hành chính và điều kiện đầu tư kinh doanh. Việc dự thảo Nghị quyết đề xuất cắt giảm, đơn giản hoá 55 thủ tục hành chính (trong đó cắt giảm 38 thủ tục và đơn giản hóa 17 thủ tục), cắt giảm, đơn giản hoá 29 điều kiện đầu tư kinh doanh, đồng thời phân cấp 15 thủ tục hành chính từ Bộ cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thể hiện quyết tâm mạnh mẽ trong việc tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi, giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp và người dân.

Phạm vi rà soát của dự thảo Nghị quyết bao trùm 16 lĩnh vực quản lý nhà nước thuộc Bộ, từ thủy sản, lâm nghiệp, chăn nuôi thú y, trồng trọt bảo vệ thực vật đến đất đai, tài nguyên nước, môi trường, khoáng sản, biển và hải đảo, cho thấy tính toàn diện và hệ thống của phương án cải cách. Đặc biệt, việc cắt giảm ước tính 661 ngày xử lý thủ tục và 7,54 tỷ đồng chi phí tuân thủ so với năm 2024 sẽ mang lại lợi ích thiết thực cho cộng đồng doanh nghiệp.

VCCI cũng ghi nhận tích cực việc dự thảo Nghị quyết được thiết kế theo hướng áp dụng ngay, có hiệu lực thi hành sớm, không chờ sửa đổi từng nghị định riêng lẻ, qua đó đáp ứng yêu cầu cấp bách từ thực tiễn sản xuất kinh doanh.

II. GÓP Ý CỤ THỂ

1. Về lĩnh vực thủy sản và kiểm ngư (Phụ lục 1)

Việc bãi bỏ điều kiện về cơ sở đào tạo, bồi dưỡng thuyền viên tàu cá tại Điều 39 Nghị định số 41/2026/NĐ-CP là phù hợp với thực tiễn và được cộng đồng doanh nghiệp thủy sản đánh giá cao. Điều kiện này trước đây tạo rào cản gia nhập thị trường không cần thiết đối với các cơ sở đào tạo, trong khi chất lượng đào tạo hoàn toàn có thể được kiểm soát thông qua cơ chế hậu kiểm và tiêu chuẩn đầu ra.

Đối với việc phân cấp thẩm quyền cấp Giấy xác nhận nuôi trồng thủy sản lồng bè cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, VCCI đề nghị cơ quan soạn thảo lưu ý bổ sung quy định rõ ràng hơn về cơ chế phối hợp giữa các tỉnh trong trường hợp cơ sở nuôi trồng thủy sản hoạt động trên phạm vi từ 02 tỉnh trở lên. Dự thảo hiện quy định chủ cơ sở “được lựa chọn địa phương để đề nghị cấp Giấy xác nhận”, tuy nhiên chưa quy định rõ thời hạn để địa phương còn lại phải trả lời khi được xin ý kiến, điều này có thể dẫn đến tình trạng kéo dài thời gian giải quyết trên thực tế. Đề nghị bổ sung thời hạn cụ thể (ví dụ 03 ngày làm việc) để địa phương được xin ý kiến phải có văn bản trả lời, quá thời hạn mà không trả lời thì được coi là đồng ý.

2. Về lĩnh vực lâm nghiệp và kiểm lâm (Phụ lục 2)

Việc bãi bỏ thủ tục gia hạn và thay thế giấy phép FLEGT tại Điều 17, Điều 18 Nghị định số 102/2020/NĐ-CP là hợp lý, phù hợp với xu hướng đơn giản hóa thủ tục xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ sang thị trường EU. Tuy nhiên, đề nghị cơ quan soạn thảo làm rõ trong dự thảo hoặc trong văn bản hướng dẫn về phương thức xử lý đối với các trường hợp doanh nghiệp đã được cấp giấy phép FLEGT nhưng cần thay đổi thông tin trên giấy phép (ví dụ thay đổi cảng đích, thay đổi phương tiện vận chuyển) sau khi thủ tục thay thế bị bãi bỏ, nhằm tránh gây lúng túng trong thực thi.

Việc không thực hiện thành phần hồ sơ tại điểm c khoản 1 Điều 75 Nghị định số 156/2018/NĐ-CP đối với thủ tục miễn, giảm tiền dịch vụ môi trường rừng cũng là bước đơn giản hóa cần thiết, giảm gánh nặng giấy tờ cho các chủ rừng và tổ chức quản lý rừng.

3. Về lĩnh vực chăn nuôi và thú y (Phụ lục 14)

Đây là lĩnh vực có số lượng thủ tục được đơn giản hóa nhiều nhất trong dự thảo Nghị quyết, phản ánh đúng thực trạng còn nhiều thủ tục rườm rà, thời gian giải quyết kéo dài trong lĩnh vực này. VCCI đặc biệt hoan nghênh việc rút ngắn thời hạn giải quyết các thủ tục cấp chứng chỉ hành nghề thú y (còn 03 ngày làm việc), cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thuốc thú y, cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện buôn bán thuốc thú y, cũng như việc bãi bỏ điều kiện kinh doanh dịch vụ thử nghiệm, khảo nghiệm chế phẩm sinh học trong chăn nuôi và điều kiện của cơ sở mua bán, nhập khẩu sản phẩm xử lý chất thải chăn nuôi.

Tuy nhiên, VCCI nhận thấy một số vấn đề cần được cân nhắc thêm. Thứ nhất, đối với thủ tục công bố thông tin sản phẩm thức ăn bổ sung (mục XIX, XX, XXI, XXII), dự thảo quy định phân cấp cho cơ quan được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao giải quyết, nhưng kết quả lại được công bố trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Đề nghị làm rõ cơ chế kỹ thuật để cơ quan cấp tỉnh có thể cập nhật thông tin lên Cổng thông tin điện tử của Bộ, tránh tình trạng doanh nghiệp phải chờ đợi thêm thời gian do quy trình phối hợp giữa hai cấp.

Thứ hai, việc phân cấp thẩm quyền cấp, điều chỉnh, cấp lại giấy phép nhập khẩu, xuất khẩu thuốc thú y có chứa chất ma túy, tiền chất (mục III Phần B) cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là một bước phân cấp mạnh. Đề nghị cơ quan soạn thảo đánh giá kỹ năng lực thực tế của các địa phương trong việc thẩm định loại hồ sơ đặc thù này, đồng thời có phương án tập huấn, hướng dẫn nghiệp vụ để đảm bảo chất lượng giải quyết thủ tục không bị ảnh hưởng sau phân cấp.

4. Về lĩnh vực trồng trọt và bảo vệ thực vật (Phụ lục 13)

VCCI đánh giá cao việc bãi bỏ thủ tục cấp lại Chứng chỉ hành nghề dịch vụ đại diện quyền đối với giống cây trồng, bãi bỏ thủ tục cấp lại Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất phân bón trong trường hợp mất, hư hỏng, và đặc biệt là việc không thực hiện kiểm tra tình trạng sinh vật gây hại tại nơi sản xuất của quốc gia xuất khẩu đối với nhập khẩu cây mang theo bầu đất. Đây là những cải cách thiết thực, giảm đáng kể chi phí và thời gian cho doanh nghiệp.

Đối với việc phân cấp thẩm quyền chứng nhận chủng loại gạo thơm xuất khẩu sang EU và UK (mục III, IV Phần B), VCCI ủng hộ hướng phân cấp này vì sẽ giúp rút ngắn thời gian xử lý cho doanh nghiệp xuất khẩu gạo. Tuy nhiên, đề nghị lưu ý rằng đây là thủ tục liên quan trực tiếp đến cam kết quốc tế trong Hiệp định EVFTA và Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Vương quốc Anh, do đó cần đảm bảo tính thống nhất và chất lượng chứng nhận trên toàn quốc. Đề nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành hướng dẫn chi tiết, thống nhất quy trình thẩm định cho các địa phương, đồng thời thiết lập cơ chế giám sát để đảm bảo uy tín của gạo thơm Việt Nam tại thị trường quốc tế.

Quy định chuyển tiếp cho phép thủ tục này được thực hiện sau 30 ngày kể từ ngày Nghị quyết có hiệu lực là hợp lý, tạo thời gian cần thiết để các địa phương chuẩn bị nguồn lực tiếp nhận.

5. Về lĩnh vực thủy lợi (Phụ lục 6)

Việc rút ngắn thời hạn giải quyết các thủ tục cấp giấy phép hoạt động trong phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi và thủ tục gia hạn, điều chỉnh nội dung giấy phép là cần thiết và phù hợp với yêu cầu cắt giảm thời gian xử lý. Tuy nhiên, VCCI lưu ý rằng tại mục IV, thời hạn giải quyết đối với hoạt động quy định tại khoản 3, khoản 5 Điều 15 Nghị định số 40/2026/NĐ-CP được quy định là “1,5 ngày làm việc”. Đề nghị cơ quan soạn thảo cân nhắc làm tròn thành 02 ngày làm việc để đảm bảo tính khả thi trong thực thi, bởi việc tính toán “nửa ngày làm việc” có thể gây khó khăn trong áp dụng thực tế tại cơ quan giải quyết thủ tục hành chính.

6. Về lĩnh vực tài nguyên nước (Phụ lục 9 – Tài nguyên nước)

Việc bãi bỏ thủ tục chấp thuận nội dung về phương án chuyển nước và thay thế bằng cơ chế lấy ý kiến Bộ Nông nghiệp và Môi trường trong quá trình thẩm định chủ trương đầu tư hoặc quyết định đầu tư là một cải cách đáng ghi nhận, giúp tích hợp thủ tục, giảm đầu mối xin phép cho nhà đầu tư. Đề nghị bổ sung quy định về thời hạn Bộ Nông nghiệp và Môi trường phải có ý kiến trả lời khi được lấy ý kiến, nhằm tránh tình trạng kéo dài thời gian thẩm định dự án đầu tư.

Đối với thủ tục cấp lại giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất, việc chuyển sang cơ chế thông báo thay đổi tên chủ giấy phép (thay vì phải xin cấp lại) và cơ chế cấp bản sao từ bản gốc (thay vì cấp lại khi mất, hư hỏng) là hướng đi đúng đắn, phù hợp với nguyên tắc đơn giản hóa thủ tục hành chính.

7. Về lĩnh vực môi trường (Phụ lục 8)

VCCI ủng hộ việc bãi bỏ thủ tục chỉ định tổ chức đánh giá sự phù hợp quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về phế liệu nhập khẩu và chuyển sang cơ chế đăng ký hoạt động giám định theo Nghị định số 22/2026/NĐ-CP. Đây là bước chuyển từ cơ chế “xin – cho” sang cơ chế đăng ký, phù hợp với xu hướng cải cách. Tuy nhiên, đề nghị quy định rõ hơn trách nhiệm hậu kiểm của Bộ Nông nghiệp và Môi trường đối với các tổ chức đánh giá sự phù hợp, đặc biệt là cơ chế xử lý khi phát hiện tổ chức không đáp ứng năng lực, nhằm đảm bảo kiểm soát chất lượng phế liệu nhập khẩu, bảo vệ môi trường.

8. Về lĩnh vực quản lý tổng hợp biển và hải đảo (Phụ lục 9 – Biển và hải đảo)

Việc bãi bỏ thủ tục gia hạn Quyết định giao khu vực biển và tích hợp vào thủ tục sửa đổi, bổ sung Quyết định giao khu vực biển là hợp lý, giảm số lượng thủ tục hành chính mà vẫn đảm bảo quản lý nhà nước. Việc phân cấp thẩm quyền công nhận khu vực biển cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cũng phù hợp với xu hướng phân cấp, tăng tính chủ động cho địa phương. Đề nghị bổ sung quy định về cơ chế báo cáo, chia sẻ thông tin giữa các tỉnh ven biển và Bộ Nông nghiệp và Môi trường để đảm bảo tính thống nhất trong quản lý khu vực biển.

9. Về lĩnh vực đất đai (Phụ lục 5)

Việc bãi bỏ điều kiện đầu tư kinh doanh về dịch vụ tư vấn điều tra, đánh giá đất đai và tư vấn lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là phù hợp, giúp mở rộng thị trường dịch vụ tư vấn, tăng tính cạnh tranh và giảm chi phí cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu sử dụng dịch vụ. Chất lượng dịch vụ hoàn toàn có thể được kiểm soát thông qua trách nhiệm pháp lý của tổ chức tư vấn đối với sản phẩm và cơ chế hậu kiểm.

10. Về lĩnh vực địa chất và khoáng sản (Phụ lục 10)

Việc đơn giản hóa điều kiện cấp giấy phép khai thác khoáng sản nhóm IV, theo đó tổ chức không phải thực hiện thủ tục xác nhận kết quả khảo sát, đánh giá thông tin chung mà được cấp giấy phép trên cơ sở kết quả do tổ chức, cá nhân tự thành lập, là bước cải cách đáng kể, giảm thời gian và chi phí cho doanh nghiệp khai thác khoáng sản nhóm IV (thường là khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường). Đề nghị Bộ tăng cường cơ chế hậu kiểm để đảm bảo chất lượng khảo sát, đánh giá do tổ chức, cá nhân tự thực hiện.

III. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ KHÁC

Thứ nhất, về điều khoản thi hành, khoản 2 Điều 5 dự thảo Nghị quyết quy định các quy định tương ứng trong Nghị quyết sẽ hết hiệu lực khi nghị định, nghị quyết, quyết định mới được ban hành trong khoảng thời gian từ ngày Nghị quyết có hiệu lực đến trước ngày 01/3/2027. Đề nghị cơ quan soạn thảo bổ sung quy định yêu cầu các văn bản quy phạm pháp luật mới ban hành phải kế thừa và không được quy định thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư kinh doanh phức tạp hơn so với quy định tại Nghị quyết này, nhằm đảm bảo tính bền vững của kết quả cải cách.

Thứ hai, đề nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường sớm ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết cho các địa phương về việc tiếp nhận và thực hiện các thủ tục hành chính được phân cấp, bao gồm quy trình nghiệp vụ, biểu mẫu thống nhất và cơ chế phối hợp với Bộ. Đồng thời, đề nghị tổ chức tập huấn cho cán bộ, công chức cấp tỉnh trước thời điểm Nghị quyết có hiệu lực, đặc biệt đối với các thủ tục mang tính chuyên môn cao như chứng nhận chủng loại gạo thơm xuất khẩu, cấp giấy phép nhập khẩu thuốc thú y có chứa chất ma túy, tiền chất, chấp thuận lấy mẫu nghiên cứu chế biến khoáng sản nhóm I.

Thứ ba, VCCI đề nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục rà soát, đánh giá để trong các đợt cải cách tiếp theo có thể mở rộng phạm vi cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính và điều kiện đầu tư kinh doanh, hướng tới mục tiêu cắt giảm ít nhất 30% điều kiện đầu tư kinh doanh và 50% thời gian giải quyết, 50% chi phí tuân thủ thủ tục hành chính so với năm 2024 theo yêu cầu tại Kết luận số 18-KL/TW ngày 02/4/2026 của Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.

Thứ tư, trên cơ sở tổng hợp phản ánh của cộng đồng doanh nghiệp, VCCI nhận thấy còn một số vướng mắc thuộc phạm vi quản lý của Bộ Nông nghiệp và Môi trường chưa được đề cập trong dự thảo Nghị quyết lần này, đề nghị Bộ nghiên cứu, xem xét giải quyết trong các đợt cải cách tiếp theo hoặc trong dự thảo Thông tư sửa đổi đang được xây dựng song song, bao gồm:

Một là, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) phản ánh hiện chưa có quy định và hướng dẫn cụ thể về quy trình kiểm dịch, kiểm tra an toàn thực phẩm đối với các lô hàng thủy sản chuyển đổi mục đích sử dụng (từ nhập khẩu để sản xuất xuất khẩu sang tiêu thụ nội địa hoặc ngược lại), dẫn đến hàng hóa phải chờ đợi tại cảng, phát sinh chi phí lưu kho bãi và làm giảm chất lượng hàng tươi sống. Đề nghị Bộ sớm ban hành hướng dẫn thống nhất về quy trình kiểm tra chuyên ngành đối với trường hợp này, áp dụng nguyên tắc quản lý rủi ro để cho phép thông quan nhanh và hậu kiểm tại kho của doanh nghiệp.

Hai là, VASEP cũng phản ánh quy định bắt buộc doanh nghiệp hoạt động trong khu công nghiệp phải đấu nối nước thải vào hệ thống xử lý nước thải tập trung của khu công nghiệp tại Điều 53 và Điều 86 Luật Bảo vệ Môi trường 2020 đang tạo ra cơ chế hai cấp xử lý nước thải, khiến tổng chi phí xử lý nước thải của doanh nghiệp thủy sản trong khu công nghiệp lên tới 21.000 – 23.500 đồng/m³, cao gấp khoảng 2 lần so với trường hợp doanh nghiệp tự đầu tư hệ thống xử lý đạt chuẩn cột A ngay từ đầu (chỉ khoảng 10.000 – 12.000 đồng/m³). Với khoảng 700 nhà máy chế biến thủy sản quy mô công nghiệp nằm trong các khu công nghiệp, chi phí phát sinh thêm ước tính khoảng 200 tỷ đồng/tháng cho toàn ngành. VASEP kiến nghị sửa đổi Điều 53 và Điều 86 Luật Bảo vệ Môi trường theo hướng cho phép linh hoạt hai cơ chế: “đấu nối” và “không đấu nối có điều kiện”, trong đó doanh nghiệp tự đầu tư hệ thống xử lý nước thải đạt cột A theo QCVN 40:2025/BTNMT, lắp đặt hệ thống quan trắc tự động liên tục kết nối với cơ quan quản lý nhà nước, được phép xả thải trực tiếp ra nguồn tiếp nhận phù hợp mà không bắt buộc đấu nối vào hệ thống tập trung của khu công nghiệp. Đây là vấn đề liên quan đến sửa đổi Luật Bảo vệ Môi trường mà Bộ Nông nghiệp và Môi trường hiện đang chủ trì, phù hợp với thông lệ quốc tế tại Hoa Kỳ (hệ thống NPDES của US EPA) và Liên minh Châu Âu (Chỉ thị IED 2010/75/EU), đồng thời phù hợp với tinh thần cải cách tại Nghị quyết 02/NQ-CP ngày 08/01/2025 của Chính phủ về giảm chi phí tuân thủ và không can thiệp quá sâu vào hoạt động của doanh nghiệp. Đề nghị Bộ nghiên cứu, tiếp thu kiến nghị này trong quá trình xây dựng dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ Môi trường.

Ba là, Hiệp hội Giấy và Bột giấy Việt Nam phản ánh mức ký quỹ bảo vệ môi trường đối với nhập khẩu phế liệu (từ 15% đến 20% tổng giá trị lô hàng) theo khoản 2 Điều 46 Nghị định số 08/2022/NĐ-CP hiện nay là quá cao, gây ứ đọng vốn lưu động nghiêm trọng cho các doanh nghiệp sản xuất quy mô lớn, trong khi hầu hết doanh nghiệp chính quy đều tuân thủ tốt các tiêu chuẩn môi trường. Đề nghị Bộ xem xét điều chỉnh giảm mức ký quỹ đối với các doanh nghiệp có lịch sử tuân thủ môi trường tốt, đồng thời thiết lập cơ chế hoàn trả ký quỹ nhanh hơn sau khi hàng hóa được thông quan.

Bốn là, Hiệp hội Vận tải ô tô Việt Nam phản ánh quy định tại Mẫu số 1 và số 2, Phụ lục II Thông tư số 07/2026/TT-BNNMT yêu cầu doanh nghiệp vận tải phải kê khai tên người xuất khẩu trên Đơn đề nghị cấp phép kiểm dịch đối với hàng nông sản quá cảnh là không khả thi, vì doanh nghiệp vận tải chỉ là đơn vị trung gian, không có quan hệ trực tiếp với người xuất khẩu phía nước ngoài. Đề nghị Bộ sửa đổi biểu mẫu theo hướng loại bỏ yêu cầu này đối với hàng hóa quá cảnh trong dự thảo Thông tư sửa đổi đang được xây dựng.

Năm là, Hiệp hội Sữa Việt Nam phản ánh các sản phẩm sữa đã tiệt trùng, đóng gói kín vẫn bị yêu cầu kiểm dịch động vật khi vận chuyển ra khỏi địa bàn tỉnh nơi đặt nhà máy theo Phụ lục II Thông tư số 01/2026/TT-BNNMT, mâu thuẫn với tiêu chuẩn của Tổ chức Thú y Thế giới (WOAH) và phát sinh chi phí tuân thủ lớn mà không thực sự nâng cao hiệu quả quản lý dịch bệnh. Đề nghị Bộ sửa đổi Thông tư theo hướng miễn kiểm dịch thú y đối với sữa và sản phẩm sữa đã qua chế biến tại các nhà máy đạt chuẩn ISO, HACCP khi vận chuyển lưu thông trong nước.

Sáu là, Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam phản ánh tình trạng ách tắc trong hoàn thuế giá trị gia tăng do cơ quan thuế đẩy trách nhiệm xác minh nguồn gốc lâm sản sang doanh nghiệp, trong khi đây vốn là chức năng của ngành kiểm lâm thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Đề nghị Bộ phối hợp với Bộ Tài chính phân định rõ trách nhiệm xác minh nguồn gốc lâm sản thuộc về ngành kiểm lâm, để cơ quan thuế chỉ căn cứ trên hóa đơn và chứng từ hợp lệ khi giải quyết hoàn thuế cho doanh nghiệp xuất khẩu gỗ.

Trên đây là ý kiến góp ý của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đối với dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính và cắt giảm, đơn giản hoá điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Kính đề nghị Quý Bộ nghiên cứu, tiếp thu.

Trân trọng cảm ơn.

Các văn bản liên quan