Góp ý Dự thảo Nghị quyết về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý của Bộ Nông nghiệp và Môi trường
Góp ý Dự thảo Nghị quyết về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công an
Góp ý Dự thảo Nghị quyết về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công Thương
Kính gửi: Bộ Công Thương
Phúc đáp Công văn số 2873/BCT-PC ngày 24 tháng 4 năm 2026 của Bộ Công Thương về việc lấy ý kiến đối với Dự thảo Nghị quyết cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công Thương (sau đây gọi tắt là Dự thảo), trên cơ sở tổng hợp ý kiến của cộng đồng doanh nghiệp, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) có một số ý kiến như sau:
I. ĐÁNH GIÁ CHUNG
VCCI đánh giá cao nỗ lực của Bộ Công Thương trong việc xây dựng Dự thảo Nghị quyết trong thời gian rất ngắn, thể hiện tinh thần cải cách quyết liệt, đồng bộ nhằm thể chế hóa các chủ trương của Bộ Chính trị tại Nghị quyết số 57-NQ/TW, Nghị quyết số 66-NQ/TW, Nghị quyết số 68-NQ/TW và Kết luận số 18-KL/TW. Phương án tổng thể với việc phân cấp 57 thủ tục hành chính, đề xuất bãi bỏ 30 thủ tục hành chính, cắt giảm 351 điều kiện kinh doanh và đề xuất bãi bỏ 06 ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện cho thấy quyết tâm chính trị rất cao và cách tiếp cận toàn diện, có hệ thống.
Dự thảo có nhiều điểm tiến bộ đáng ghi nhận từ góc nhìn của cộng đồng doanh nghiệp. Việc trao quyền cho Tập đoàn Công nghiệp – Năng lượng Quốc gia Việt Nam (PVN) thực hiện các thủ tục phê duyệt, chấp thuận trong lĩnh vực dầu khí sẽ rút ngắn đáng kể thời gian ra quyết định, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong lĩnh vực thăm dò, khai thác dầu khí. Việc mở rộng các trường hợp miễn trừ cấp giấy phép, giấy chứng nhận trong lĩnh vực hóa chất, đặc biệt đối với hóa chất có hàm lượng thấp trong hỗn hợp, là bước tiến quan trọng giúp giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh. Việc bãi bỏ hàng loạt thủ tục hành chính trong các lĩnh vực thuốc lá, xuất nhập khẩu, thương mại điện tử cũng phản ánh đúng tinh thần chuyển từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm” mà Chính phủ đang theo đuổi.
Tuy nhiên, VCCI cũng nhận thấy một số nội dung cần được cân nhắc, bổ sung để Nghị quyết phát huy hiệu quả tối đa trong thực tiễn, đồng thời bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa.
II. GÓP Ý CỤ THỂ
1. Về hiệu lực thi hành và tính ổn định của chính sách (Điều 8 Dự thảo Nghị quyết)
Theo Dự thảo, Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày ban hành và hết hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027. Thời hạn áp dụng ngắn (dưới 01 năm) là phù hợp với tính chất “giải quyết vấn đề cấp bách” theo điểm a khoản 2 Điều 14 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, từ góc độ doanh nghiệp, tính ổn định và khả năng dự đoán của chính sách là yếu tố then chốt trong quyết định đầu tư, kinh doanh. VCCI đề nghị Bộ Công Thương cam kết rõ ràng hơn về lộ trình luật hóa các nội dung cải cách tại Nghị quyết này vào các văn bản quy phạm pháp luật chính thức (Nghị định, Thông tư) trước thời điểm Nghị quyết hết hiệu lực, tránh tình trạng các quy định cải cách bị “đảo ngược” sau khi Nghị quyết hết hiệu lực, gây xáo trộn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh.
2. Về phân cấp thủ tục hành chính và năng lực tiếp nhận của địa phương (Phụ lục I)
VCCI hoan nghênh việc phân cấp 57 thủ tục hành chính từ Bộ Công Thương xuống Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, giúp doanh nghiệp tiếp cận dịch vụ công gần hơn, thuận tiện hơn. Tuy nhiên, chính Tờ trình của Bộ Công Thương đã chỉ ra thực trạng đáng lo ngại về nguồn lực tại địa phương, cụ thể là tình trạng thiếu hụt biên chế nghiêm trọng (Vĩnh Long thiếu 91 người, Ninh Bình thiếu 59 người), ngân sách cấp cho ngành Công Thương tại hầu hết các tỉnh chiếm dưới 0,3% ngân sách địa phương, và nhiều địa phương thiếu nhân sự có trình độ kỹ thuật trong các lĩnh vực hóa chất, điện lực, an toàn thực phẩm. VCCI đề nghị Nghị quyết bổ sung quy định về cơ chế hỗ trợ chuyên môn từ Bộ Công Thương cho địa phương trong giai đoạn chuyển tiếp, bao gồm việc xây dựng tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ chi tiết, tổ chức đào tạo trực tuyến và thiết lập đường dây tư vấn chuyên môn để địa phương có thể tham vấn khi gặp vướng mắc trong quá trình thụ lý hồ sơ.
3. Về cắt giảm điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực hóa chất (Phụ lục II, Mục A)
VCCI đánh giá cao việc Dự thảo đã cắt giảm đáng kể các điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực hóa chất, đặc biệt là việc mở rộng các trường hợp miễn trừ cấp giấy phép, giấy chứng nhận tại Mục V Phụ lục III. Việc miễn trừ đối với hóa chất có hàm lượng thấp (dưới 1% khối lượng hỗn hợp), hóa chất chứa trong các sản phẩm tiêu dùng (dược phẩm, mỹ phẩm, thực phẩm, sơn, mực in, pin, ắc quy…) và hóa chất phục vụ thí nghiệm với khối lượng nhỏ là phù hợp với thông lệ quốc tế và giúp giảm đáng kể gánh nặng tuân thủ cho doanh nghiệp.
Tuy nhiên, VCCI đề nghị Bộ Công Thương làm rõ thêm cơ chế hậu kiểm đối với các trường hợp được miễn trừ, bao gồm nghĩa vụ báo cáo, lưu trữ hồ sơ và trách nhiệm của doanh nghiệp khi vi phạm, để vừa tạo thuận lợi cho doanh nghiệp tuân thủ pháp luật, vừa đảm bảo cơ quan quản lý nhà nước có đủ thông tin để giám sát.
4. Về cắt giảm điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực xăng dầu (Phụ lục II, Mục C)
VCCI ghi nhận Dự thảo đã bãi bỏ điều kiện kinh doanh dịch vụ cho thuê cảng, kho tiếp nhận xăng dầu và dịch vụ vận tải xăng dầu. Tuy nhiên, VCCI cho rằng mức độ cải cách trong lĩnh vực này vẫn còn khiêm tốn so với tiềm năng.
Về yêu cầu sở hữu cơ sở vật chất, Dự thảo vẫn giữ nguyên các điều kiện mang tính áp đặt mô hình kinh doanh, cụ thể là yêu cầu thương nhân đầu mối phải sở hữu hoặc thuê cầu cảng tiếp nhận tàu tối thiểu 7.000 tấn, kho chứa tối thiểu 15.000 m³, tối thiểu 10 cửa hàng bán lẻ (trong đó 05 thuộc sở hữu) và 40 tổng đại lý hoặc đại lý. Các yêu cầu này thực chất là Nhà nước quy định sẵn quy mô và mô hình tổ chức kinh doanh cho doanh nghiệp, thay vì để thị trường quyết định. Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp cần được tự do lựa chọn mô hình kinh doanh phù hợp với năng lực và chiến lược của mình, miễn là đáp ứng các yêu cầu về an toàn, chất lượng và bảo vệ môi trường.
Về rào cản gia nhập thị trường, các ngưỡng tối thiểu về cơ sở vật chất nêu trên tạo rào cản gia nhập rất cao, trên thực tế chỉ một số ít tập đoàn lớn mới có thể đáp ứng. Điều này hạn chế cạnh tranh, duy trì cấu trúc thị trường tập trung và gián tiếp ảnh hưởng đến quyền lợi người tiêu dùng thông qua giá bán lẻ. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy nhiều nước quản lý thị trường xăng dầu chủ yếu bằng quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn an toàn phòng cháy chữa cháy, nghĩa vụ dự trữ bắt buộc và cơ chế giám sát giá, thay vì quy định chi tiết về quy mô cơ sở vật chất của từng tầng nấc phân phối.
Về yêu cầu thời hạn thuê tối thiểu 05 năm, quy định này cũng chưa thực sự hợp lý trong bối cảnh thị trường bất động sản thương mại ngày càng linh hoạt và xu hướng chuyển đổi năng lượng đang thay đổi nhanh chóng cơ cấu tiêu thụ nhiên liệu. Yêu cầu thuê dài hạn buộc doanh nghiệp phải gánh chịu rủi ro tài chính lớn, đặc biệt trong giai đoạn chuyển đổi sang xe điện khi nhu cầu xăng dầu có thể giảm dần.
VCCI đề nghị Bộ Công Thương xem xét chuyển đổi cách tiếp cận quản lý từ việc quy định chi tiết quy mô, mô hình kinh doanh sang quản lý bằng quy chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ dự trữ, nghĩa vụ báo cáo và cơ chế giám sát thị trường. Cụ thể, nên cân nhắc bãi bỏ hoặc giảm đáng kể các yêu cầu về số lượng cửa hàng thuộc sở hữu, dung tích kho tối thiểu và trọng tải cầu cảng tối thiểu, thay thế bằng các yêu cầu về năng lực tài chính, tuân thủ quy chuẩn an toàn và nghĩa vụ dự trữ lưu thông tối thiểu. Cách tiếp cận này vừa bảo đảm an ninh năng lượng, vừa mở rộng cơ hội cho doanh nghiệp mới gia nhập thị trường, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh và mang lại lợi ích thiết thực cho người tiêu dùng.
5. Về đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực thương mại quốc tế (Phụ lục III, Mục I)
VCCI đánh giá rất cao việc Dự thảo đơn giản hóa hồ sơ cấp giấy phép kinh doanh cho tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt là việc bãi bỏ yêu cầu nộp bản sao Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (vốn đã có trong hệ thống dữ liệu quốc gia) và giảm số bộ hồ sơ phải nộp. Đây là bước cải cách thiết thực, phù hợp với nguyên tắc tái sử dụng dữ liệu và chuyển đổi số trong thực hiện thủ tục hành chính.
VCCI đề nghị Bộ Công Thương tiếp tục rà soát để loại bỏ các yêu cầu về tài liệu mà cơ quan nhà nước có thể tự tra cứu, xác minh thông qua hệ thống liên thông dữ liệu, nhất là các tài liệu liên quan đến tình trạng nợ thuế (có thể tra cứu qua hệ thống của cơ quan thuế) và giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (có thể tra cứu qua Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia).
6. Về cắt giảm phí, lệ phí thực hiện thủ tục hành chính (Mục 2, Phụ lục III)
VCCI hoan nghênh việc Dự thảo bãi bỏ hoàn toàn phí thẩm định cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp, phí thẩm định trong lĩnh vực cạnh tranh, phí thẩm định kinh doanh xăng dầu, và giảm 75% phí chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O), giảm 50% phí thẩm định cấp giấy phép hoạt động điện lực, giảm 100% phí thẩm định trong lĩnh vực thuốc lá. Đây là những biện pháp trực tiếp giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp, đặc biệt có ý nghĩa đối với doanh nghiệp xuất khẩu trong bối cảnh cạnh tranh thương mại quốc tế ngày càng gay gắt.
7. Về các khó khăn, vướng mắc khi bãi bỏ ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện (Phụ lục III kèm theo Tờ trình)
VCCI ghi nhận Bộ Công Thương đã nhận diện thẳng thắn các rủi ro khi bãi bỏ 06 ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện (kinh doanh rượu, thực phẩm, xuất khẩu gạo, khoáng sản, sản xuất lắp ráp nhập khẩu ô tô, kinh doanh khí). Đây là cách tiếp cận có trách nhiệm, thể hiện sự cân nhắc kỹ lưỡng giữa mục tiêu cải cách và yêu cầu quản lý nhà nước.
Đối với lĩnh vực xuất khẩu gạo, VCCI nhận thấy các lo ngại về an ninh lương thực, tranh mua tranh bán, và rủi ro từ vốn ngoại thao túng thị trường là có cơ sở. Tuy nhiên, VCCI cũng lưu ý rằng việc duy trì điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo với yêu cầu về kho chứa, cơ sở xay xát, chế biến cũng đang tạo rào cản đáng kể cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã nông nghiệp muốn tham gia xuất khẩu trực tiếp. VCCI đề nghị Bộ Tài chính trong quá trình xây dựng Nghị quyết bãi bỏ ngành nghề kinh doanh có điều kiện cần tham vấn rộng rãi cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp Việt Nam, doanh nghiệp vừa và nhỏ, hợp tác xã và nông dân, như Bộ Công Thương đã kiến nghị tại Tờ trình.
VCCI ghi nhận Bộ Công Thương đã nhận diện một số rủi ro tiềm tàng khi bãi bỏ điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu ô tô. Tuy nhiên, từ góc nhìn của cộng đồng doanh nghiệp và thị trường, VCCI cho rằng phương án bãi bỏ là phù hợp với xu thế cải cách và có đủ cơ sở thực tiễn, với các lý do sau:
i) Về công cụ quản lý thay thế, hiện nay mọi xe ô tô sản xuất, lắp ráp hoặc nhập khẩu đều phải qua kiểm tra chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường theo các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia trước khi được lưu hành. Hệ thống đăng kiểm, cơ chế triệu hồi sản phẩm khuyết tật và trách nhiệm sản phẩm theo Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã tạo ra lớp bảo vệ hậu kiểm đủ mạnh. Giấy chứng nhận sản xuất, lắp ráp và giấy phép kinh doanh nhập khẩu ô tô thực chất là lớp tiền kiểm chồng lên các công cụ quản lý kỹ thuật đã có, làm tăng chi phí tuân thủ mà không bổ sung thêm giá trị bảo vệ an toàn công cộng.
ii) Về tác động đến người tiêu dùng, các yêu cầu về cơ sở bảo hành, ủy quyền chính hãng và giấy chứng nhận chất lượng kiểu loại từ nước sản xuất đã tạo rào cản gia nhập rất cao, khiến thị trường nhập khẩu ô tô bị chi phối bởi một số ít doanh nghiệp lớn. Hệ quả là giá ô tô tại Việt Nam vẫn thuộc nhóm cao nhất khu vực ASEAN khi so sánh theo sức mua tương đương, trong khi người tiêu dùng có ít lựa chọn hơn so với các thị trường lân cận.
iii) Về lo ngại trung chuyển hàng hóa và dư thừa công suất, Việt Nam đã có đầy đủ khung pháp lý về chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ thương mại theo Luật Quản lý ngoại thương. Quy tắc xuất xứ trong các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam là thành viên cũng đã quy định rõ tỷ lệ hàm lượng giá trị gia tăng nội địa để được hưởng ưu đãi thuế quan. Đây mới là các công cụ phù hợp với cam kết quốc tế để xử lý vấn đề lẩn tránh xuất xứ, thay vì sử dụng điều kiện kinh doanh như một hàng rào kỹ thuật trá hình.
iv) Về hiệu quả bảo hộ thực tế, sau hơn hai mươi năm áp dụng chính sách bảo hộ thông qua thuế quan cao và điều kiện kinh doanh, tỷ lệ nội địa hóa của ngành ô tô Việt Nam vẫn ở mức thấp, trung bình từ 7 đến 10 phần trăm đối với xe con, so với 70 đến 80 phần trăm tại Thái Lan. Thực tế này cho thấy rào cản gia nhập thị trường không phải là công cụ hiệu quả để thúc đẩy nội địa hóa, và các chính sách khuyến khích tích cực như ưu đãi thuế cho linh kiện sản xuất trong nước, hỗ trợ nghiên cứu phát triển và phát triển công nghiệp hỗ trợ sẽ phù hợp hơn.
Về bối cảnh chuyển đổi công nghệ, ngành công nghiệp ô tô toàn cầu đang chuyển đổi nhanh chóng sang xe điện và xe năng lượng mới với nhiều mô hình sản xuất linh hoạt. Các điều kiện kinh doanh hiện hành được thiết kế cho mô hình sản xuất ô tô truyền thống với các công đoạn hàn, sơn, lắp ráp có thể không còn phù hợp và tạo rào cản cho các nhà đầu tư mới trong lĩnh vực xe điện, xe tự hành. Kinh nghiệm quốc tế tại Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu, Nhật Bản và Hàn Quốc cũng cho thấy các nước này không sử dụng cơ chế cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, lắp ráp ô tô mà quản lý hoàn toàn bằng hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật nghiêm ngặt, cơ chế triệu hồi bắt buộc và trách nhiệm sản phẩm theo pháp luật dân sự.
Từ các phân tích trên, VCCI ủng hộ phương án bãi bỏ ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện đối với sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu ô tô, đồng thời đề nghị Bộ Công Thương phối hợp với Bộ Giao thông vận tải rà soát, hoàn thiện hệ thống quy chuẩn kỹ thuật và cơ chế hậu kiểm để bảo đảm an toàn cho người sử dụng và cộng đồng trong điều kiện thị trường mở hơn.
8. Về bảo đảm nguồn lực thực thi tại địa phương
VCCI đặc biệt quan tâm đến khả năng thực thi của Nghị quyết tại cấp địa phương. Theo báo cáo của 23 Sở Công Thương, ngân sách cấp cho ngành Công Thương tại đa số các tỉnh chiếm dưới 0,3% ngân sách địa phương, nhiều tỉnh thiếu hụt biên chế nghiêm trọng, và phần lớn các xã, phường vẫn sử dụng mô hình công chức kiêm nhiệm. Trong bối cảnh phân cấp thêm 16% thủ tục hành chính nhưng đồng thời bãi bỏ, giảm ước tính 125 tỷ đồng phí, lệ phí, VCCI đề nghị Chính phủ chỉ đạo Bộ Tài chính và Bộ Nội vụ khẩn trương có phương án bổ sung nguồn lực tài chính và nhân lực cho địa phương, tránh tình trạng phân cấp trên giấy nhưng không có đủ điều kiện thực hiện, dẫn đến chậm trễ trong giải quyết thủ tục hành chính cho doanh nghiệp.
9. Về chuyển đổi số và dịch vụ công trực tuyến
VCCI đánh giá cao việc Dự thảo quy định nhiều thủ tục hành chính có thể thực hiện trực tuyến qua Cổng Dịch vụ công quốc gia, Cổng thông tin một cửa quốc gia. Tuy nhiên, VCCI đề nghị Bộ Công Thương bổ sung quy định về thời hạn cụ thể để các thủ tục hành chính được phân cấp phải được triển khai trên nền tảng dịch vụ công trực tuyến, tránh tình trạng doanh nghiệp phải nộp hồ sơ trực tiếp tại cơ quan hành chính do hệ thống công nghệ thông tin chưa sẵn sàng.
Nhìn tổng thể, Dự thảo Nghị quyết thể hiện nỗ lực cải cách mạnh mẽ, toàn diện của Bộ Công Thương, đáp ứng kỳ vọng của cộng đồng doanh nghiệp về một môi trường kinh doanh thông thoáng, minh bạch và có chi phí tuân thủ thấp hơn. VCCI cơ bản nhất trí với các nội dung của Dự thảo và đề nghị Bộ Công Thương xem xét, tiếp thu các ý kiến góp ý nêu trên để hoàn thiện Dự thảo trước khi trình Chính phủ ban hành.
Trên đây là ý kiến của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đối với Dự thảo Nghị quyết. Rất mong Quý Bộ quan tâm, xem xét.
Trân trọng cảm ơn!
Website xây dựng pháp luật của VCCI