Góp ý Dự thảo Nghị quyết về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính do Bộ Tư pháp chủ trì

Thứ Ba 17:06 28-04-2026

Kính gửi: Bộ Tư pháp

Phúc đáp Công văn số 2799/BTP-KSTT ngày 26 tháng 4 năm 2026 của Bộ Tư pháp về việc lấy ý kiến dự thảo Nghị quyết cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh thuộc các lĩnh vực: Quốc phòng, Nội vụ, Tài chính, Xây dựng, Ngoại giao, Tư pháp, Ngân hàng (sau đây gọi tắt là “dự thảo Nghị quyết”), trên cơ sở tổng hợp ý kiến của cộng đồng doanh nghiệp, các hiệp hội doanh nghiệp trong nước và quốc tế, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) có ý kiến như sau:

I. ĐÁNH GIÁ CHUNG

VCCI đánh giá cao nỗ lực của Bộ Tư pháp trong việc chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ xây dựng dự thảo Nghị quyết trong thời gian rất ngắn, thể hiện tinh thần quyết liệt của Chính phủ trong việc cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh nhằm tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, minh bạch, hướng tới mục tiêu tăng trưởng “hai con số” theo Kết luận số 18-KL/TW ngày 02 tháng 4 năm 2026 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV.

Dự thảo Nghị quyết có phạm vi bao phủ rộng, với 12 thủ tục hành chính được phân cấp, 52 thủ tục hành chính không thực hiện, 79 thủ tục hành chính được đơn giản hóa, 89 điều kiện kinh doanh không quy định và 35 điều kiện kinh doanh được đơn giản hóa. Đây là tín hiệu tích cực, phản ánh đúng tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04 tháng 5 năm 2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân. Cộng đồng doanh nghiệp đặc biệt hoan nghênh cơ chế áp dụng trực tiếp của Nghị quyết (có hiệu lực ngay mà không cần chờ sửa đổi từng Nghị định), giúp doanh nghiệp được hưởng lợi nhanh chóng từ các phương án cắt giảm.

Tuy nhiên, qua rà soát đối chiếu với thực tiễn vướng mắc mà cộng đồng doanh nghiệp đã phản ánh, VCCI nhận thấy dự thảo Nghị quyết còn một số nội dung cần bổ sung, hoàn thiện thêm để phát huy tối đa hiệu quả cải cách. Cụ thể như sau:

II. GÓP Ý CỤ THỂ THEO TỪNG LĨNH VỰC

1. Về Phụ lục I.1 – Lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng

VCCI nhất trí với phương án cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực mật mã dân sự và quản lý vùng trời. Việc rút ngắn thời gian thẩm định cấp giấy phép kinh doanh sản phẩm mật mã dân sự từ 15 ngày xuống 12 ngày làm việc, cấp giấy phép xuất nhập khẩu từ 07 ngày xuống 06 ngày làm việc là phù hợp với yêu cầu thực tiễn.

Tuy nhiên, VCCI đề nghị Ban soạn thảo xem xét bổ sung nội dung liên quan đến thủ tục xuất nhập cảnh tại cửa khẩu cảng biển. Theo phản ánh của các doanh nghiệp vận tải biển quốc tế, quy trình kiểm soát biên phòng tại cảng biển hiện vẫn thực hiện hoàn toàn thủ công (đối chiếu thị thực, đóng dấu hộ chiếu và thẻ đi bờ cho hàng nghìn hành khách mỗi chuyến tàu), gây áp lực rất lớn về nhân sự và chi phí hành chính, ảnh hưởng tiêu cực đến trải nghiệm du lịch của khách quốc tế. Đề nghị nghiên cứu đơn giản hóa thủ tục theo hướng cho phép khai báo điện tử trước chuyến đi, tiếp nhận dữ liệu hành khách trước khi tàu cập cảng, phù hợp với cam kết của Việt Nam theo Công ước FAL 65 của Tổ chức Hàng hải quốc tế (IMO).

2. Về Phụ lục I.2 – Lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Nội vụ

VCCI đánh giá cao phương án chuyển từ cơ chế “đăng ký và cấp phép” sang cơ chế “thông báo” đối với doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm giúp việc gia đình ở nước ngoài (Mục A.II, Phụ lục I.2). Đây là bước chuyển đổi quan trọng từ tư duy “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”, giảm đáng kể gánh nặng hành chính cho doanh nghiệp.

VCCI cũng nhất trí với việc rút ngắn thời hạn giải quyết các thủ tục hỗ trợ lao động về nước trước thời hạn xuống 08 ngày làm việc và thủ tục hỗ trợ giải quyết tranh chấp xuống 07 ngày làm việc. Tuy nhiên, đề nghị Ban soạn thảo xem xét bổ sung quy định rõ hơn về cơ chế kết nối cung cầu lao động giữa các địa phương, đặc biệt trong bối cảnh nhiều doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu tại các khu công nghiệp đang gặp khó khăn trong việc huy động nhanh nguồn lao động khi mở rộng sản xuất hoặc tăng ca đột xuất.

Ngoài ra, đề nghị làm rõ hơn quy trình gia hạn Giấy phép lao động cho chuyên gia nước ngoài. Theo phản ánh của nhiều hiệp hội doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam, thủ tục gia hạn hiện nay bị đối xử như cấp mới hoàn toàn, yêu cầu doanh nghiệp phải nộp lại toàn bộ hồ sơ gốc thay vì chỉ nộp các tài liệu có sự thay đổi. Đề nghị nghiên cứu đơn giản hóa theo hướng chỉ yêu cầu cập nhật các tài liệu mới phát sinh khi gia hạn.

3. Về Phụ lục I.3 – Lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tài chính

VCCI nhất trí với phương án đơn giản hóa thủ tục đăng ký hành nghề thẩm định giá và cấp, cấp lại Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ thẩm định giá. Đặc biệt, quy định cho phép cơ quan thụ lý hồ sơ chủ động khai thác thông tin trên hệ thống cơ sở dữ liệu để thay thế thành phần hồ sơ (điểm g, khoản 1, Mục I, Phụ lục I.3) là phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW về chuyển đổi số quốc gia.

Tuy nhiên, VCCI đề nghị Ban soạn thảo xem xét bổ sung một số nội dung liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tài chính mà cộng đồng doanh nghiệp đã kiến nghị nhiều lần.

Thứ nhất, về hạn mức chi phí phúc lợi được khấu trừ khi xác định thuế thu nhập doanh nghiệp. Mức trần 05 triệu đồng mỗi tháng mỗi người đối với các khoản đóng góp bảo hiểm hưu trí tự nguyện và mua bảo hiểm nhân thọ cho người lao động đã duy trì từ lâu, không còn phù hợp với mặt bằng thu nhập hiện nay. Đề nghị nâng mức trần hoặc bãi bỏ hạn mức khống chế để khuyến khích doanh nghiệp thực hiện chính sách an sinh xã hội bổ sung và thu hút nhân tài.

Thứ hai, về rủi ro đánh thuế trùng đối với các nền tảng kinh doanh B2B trực tuyến. Hiện thiếu quy định rõ ràng về phạm vi loại trừ đối với các giao dịch B2B đã được khấu trừ thuế nhà thầu, dẫn đến tình trạng doanh thu tính thuế bị tính trên tổng giá trị giao dịch thay vì chỉ tính trên phí hoa hồng thực nhận. Đề nghị ban hành hướng dẫn thống nhất để tránh đánh thuế hai lần.

Thứ ba, về công nhận bảo hiểm bảo lãnh tương đương bảo lãnh ngân hàng trong đấu thầu. Các quy định hiện hành chỉ ghi nhận “Thư bảo lãnh của ngân hàng” mà chưa chấp nhận “Giấy chứng nhận bảo hiểm bảo lãnh” trong hoạt động đấu thầu, tạo sự bất bình đẳng giữa các tổ chức tài chính. Đề nghị bổ sung quy định công nhận bảo hiểm bảo lãnh do doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ cấp có giá trị pháp lý tương đương bảo lãnh ngân hàng.

4. Về Phụ lục I.4 – Lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Xây dựng

VCCI đánh giá rất cao phạm vi cắt giảm tại Phụ lục I.4, đặc biệt là việc bãi bỏ 20 thủ tục hành chính trong các lĩnh vực hàng hải, đường thủy nội địa, đăng kiểm và quản lý chất lượng công trình xây dựng. Việc phân cấp thẩm quyền cấp Giấy phép vận chuyển hàng hóa nguy hiểm bằng phương tiện thủy nội địa cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là phù hợp với chủ trương phân cấp, phân quyền của Đảng và Nhà nước.

Đặc biệt, VCCI hoan nghênh việc rút ngắn thời hạn giải quyết nhiều thủ tục hàng hải quan trọng, như thủ tục thỏa thuận vị trí, thông số kỹ thuật chi tiết cảng (tổng cộng chỉ còn 05 ngày làm việc), thủ tục chấp thuận thiết lập báo hiệu hàng hải (03 ngày làm việc), thủ tục công bố cảng dầu khí ngoài khơi (03 ngày làm việc). Đây là những cải cách có ý nghĩa thiết thực đối với các doanh nghiệp cảng biển và vận tải biển.

Tuy nhiên, VCCI đề nghị Ban soạn thảo xem xét bổ sung một số nội dung sau:

Thứ nhất, về phân cấp triệt để quyền thẩm định kết cấu hạ tầng bến cảng và phương án duy tu luồng lạch. Theo phản ánh của Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (VIMC) và Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn, các hoạt động duy tu, nạo vét luồng hàng hải định kỳ hiện vẫn phải qua quá trình thẩm định đa tầng nấc tại Trung ương, dẫn đến thời gian chờ đợi vượt quá chu kỳ bồi lắng tự nhiên của luồng lạch. Mặc dù dự thảo đã rút ngắn thời hạn phê duyệt Phương án bảo đảm an toàn hàng hải, đề nghị nghiên cứu phân cấp thêm cho các Ban Quản lý cảng vụ khu vực đối với các công trình duy tu định kỳ không thay đổi quy mô kỹ thuật.

Thứ hai, về quy trình xử lý hàng hóa tồn đọng và phế liệu tại cảng biển. Lượng hàng hóa vi phạm, phế liệu tồn đọng tại các cảng biển rất lớn nhưng quy trình xử lý, thanh lý hoặc tiêu hủy vô cùng chậm chạp, khiến doanh nghiệp cảng phải gánh chịu chi phí bảo quản, lưu kho bãi mà không có cơ chế thu hồi chi phí. Đề nghị xây dựng quy trình rút gọn cho việc tiêu hủy hoặc thanh lý hàng tồn đọng quá 90 ngày.

Thứ ba, về điều kiện kinh doanh sản phẩm amiăng trắng. VCCI nhất trí với phương án không quy định điều kiện kinh doanh sản phẩm amiăng trắng thuộc nhóm Serpentine tại Điều 8 Nghị định số 09/2021/NĐ-CP (Mục 2, Phần Đ, Phụ lục I.4). Theo phản ánh của Hiệp hội Tấm lợp Việt Nam, việc duy trì một đề án “treo” về dừng sử dụng amiăng trắng kéo dài hơn 8 năm đã gây tâm lý bất ổn cho doanh nghiệp, khiến các đơn vị không dám đầu tư hiện đại hóa dây chuyền công nghệ. Đề nghị Chính phủ xem xét khép lại đề án này, chuyển sang tăng cường quản lý và sử dụng an toàn theo tiêu chuẩn quốc tế.

5. Về Phụ lục I.5 – Lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Ngoại giao

VCCI nhất trí với phương án phân cấp thẩm quyền giải quyết thủ tục cấp phép làm cộng tác viên và trợ lý báo chí của Văn phòng thường trú báo chí nước ngoài tại Việt Nam cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Việc rút ngắn thời hạn cấp, cấp lại, gia hạn Thẻ phóng viên nước ngoài xuống 03 ngày làm việc là phù hợp.

VCCI cũng đánh giá cao việc rút ngắn thời hạn giải quyết thủ tục cấp Giấy đăng ký hoạt động cho tổ chức phi chính phủ nước ngoài xuống 25 ngày làm việc và thủ tục sửa đổi, bổ sung, cấp lại xuống 20 ngày làm việc.

Tuy nhiên, VCCI đề nghị Ban soạn thảo xem xét bổ sung nội dung liên quan đến thủ tục cấp giấy phép tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam. Theo phản ánh của rất nhiều hiệp hội doanh nghiệp, Quyết định số 06/2020/QĐ-TTg đang bộc lộ nhiều vướng mắc, trong đó khái niệm “có sự tham gia của nước ngoài” đang được hiểu quá rộng, dẫn đến việc các hội thảo mang tính chất thông thường nhưng có đại biểu nước ngoài tham dự cũng bị buộc phải thực hiện thủ tục cấp phép phức tạp. Yêu cầu nộp hồ sơ trước ít nhất 30 ngày thiếu tính linh hoạt đối với các sự kiện phát sinh đột xuất. Đề nghị sửa đổi theo hướng chỉ áp dụng cơ chế quản lý chặt chẽ đối với các sự kiện có nội dung nhạy cảm, tác động trực tiếp đến an ninh quốc gia và quốc phòng, còn đối với các hội nghị, hội thảo có yếu tố nước ngoài mang tính chất thông thường thì nên bãi bỏ thủ tục cấp phép.

6. Về Phụ lục I.6 – Lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp

VCCI nhất trí với phương án chuyển từ cơ chế “đăng ký hành nghề” sang cơ chế “thông báo” đối với doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản. Việc bãi bỏ 03 thủ tục hành chính (đăng ký hành nghề, thay đổi thành viên hợp danh, thay đổi thông tin doanh nghiệp) và thay thế bằng cơ chế thông báo với thời hạn xử lý 03 đến 05 ngày làm việc là phù hợp với xu hướng cải cách hành chính hiện đại, giảm đáng kể gánh nặng tuân thủ cho doanh nghiệp.

Ngoài ra, VCCI đề nghị Ban soạn thảo xem xét bổ sung hướng dẫn cụ thể về cách thức mô tả tài sản hình thành trong tương lai là máy móc, thiết bị trên hệ thống đăng ký giao dịch bảo đảm trực tuyến. Theo phản ánh của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, việc đăng ký thế chấp cho tài sản là máy móc, thiết bị thuộc các dự án năng lượng, hạ tầng hình thành trong tương lai đang gặp trở ngại do thiếu các tiêu chí định danh tài sản cụ thể, làm tăng rủi ro cho ngân hàng khi giải ngân theo tiến độ dự án.

7. Về Phụ lục I.7 – Lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

VCCI nhất trí với phương án đơn giản hóa thủ tục hành chính trong các lĩnh vực thành lập và hoạt động ngân hàng, hoạt động ngoại hối, hoạt động thông tin tín dụng và hoạt động thanh toán. Đặc biệt, VCCI đánh giá cao việc quy định hồ sơ và thời hạn giải quyết thủ tục đăng ký tham gia Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox) đối với giải pháp chấm điểm tín dụng và chia sẻ dữ liệu qua giao diện lập trình ứng dụng mở (Open API) tại Nghị định số 94/2025/NĐ-CP. Đây là bước tiến quan trọng trong việc tạo hành lang pháp lý cho Fintech và ngân hàng số.

Tuy nhiên, VCCI đề nghị Ban soạn thảo xem xét bổ sung một số nội dung sau:

Thứ nhất, về rào cản trong cấp phép hoạt động bổ sung cho chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Theo phản ánh của Hiệp hội Doanh nghiệp Anh Quốc tại Việt Nam (BritCham), khi xin cấp phép hoạt động bổ sung cho Giấy phép Ngân hàng, ngân hàng phải cung cấp xác nhận từ cơ quan quản lý nước sở tại chứng thực rằng ngân hàng mẹ được phép thực hiện hoạt động đó. Yêu cầu này không khả thi trong bối cảnh quản lý ngân hàng quốc tế, nơi nhiều nước cho phép ngân hàng thực hiện các hoạt động theo quy định chung mà không cần cấp phép riêng cho từng hoạt động cụ thể. Đề nghị Ngân hàng Nhà nước xem xét bãi bỏ yêu cầu này, thay vào đó chỉ đánh giá năng lực thực hiện dịch vụ của chính chi nhánh tại Việt Nam.

Thứ hai, về thiếu khung pháp lý cho giải pháp quản lý thanh khoản tập trung (Cash Pooling). Hiện không có khung pháp lý cho phép gộp tiền mặt giữa các pháp nhân khác nhau, cả trong nước và xuyên biên giới. Vấn đề này đã được thảo luận từ năm 2017 nhưng chưa có tiến triển đáng kể. Đề nghị Ngân hàng Nhà nước khẩn trương xây dựng khung pháp lý cho cơ chế cash pooling nội địa bằng VND giữa các đơn vị trong cùng tập đoàn, tiến tới mở rộng cho các giao dịch xuyên biên giới có điều kiện.

Thứ ba, về điều kiện cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán. VCCI nhất trí với phương án đơn giản hóa điều kiện kinh doanh tại Mục 2 Phụ lục I.7, đặc biệt là việc giảm yêu cầu về vốn điều lệ tối thiểu xuống 50 tỷ đồng đối với dịch vụ ví điện tử, dịch vụ hỗ trợ thu hộ, chi hộ và dịch vụ cổng thanh toán điện tử. Tuy nhiên, đề nghị làm rõ hơn lộ trình áp dụng đối với các tổ chức đã được cấp phép trước thời điểm Nghị quyết có hiệu lực.

III. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ CHUNG

Thứ nhất, về cơ chế giám sát thực thi. Dự thảo Nghị quyết quy định thời hạn có hiệu lực từ tháng 4 năm 2026 đến hết ngày 01 tháng 3 năm 2027, trong thời gian đó các Bộ phải hoàn thành việc sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật tương ứng. VCCI đề nghị Bộ Tư pháp thiết lập cơ chế báo cáo tiến độ hằng quý để đảm bảo các Bộ, ngành thực thi đúng thời hạn, tránh tình trạng Nghị quyết hết hiệu lực mà các văn bản thay thế chưa được ban hành, tạo ra khoảng trống pháp lý.

Thứ hai, về tính liên thông giữa các Nghị quyết cắt giảm. Dự thảo Nghị quyết này chỉ bao gồm 07 lĩnh vực, trong khi các Bộ khác (Công Thương, Y tế, Nông nghiệp và Môi trường, Khoa học và Công nghệ) đang xây dựng Nghị quyết riêng. VCCI đề nghị Bộ Tư pháp phối hợp với Văn phòng Chính phủ đảm bảo tính đồng bộ, tránh mâu thuẫn giữa các Nghị quyết, đặc biệt đối với các thủ tục liên ngành.

Thứ ba, về đẩy mạnh liên thông dữ liệu. Dự thảo Nghị quyết đã có một số quy định về việc cơ quan thụ lý hồ sơ chủ động khai thác thông tin trên hệ thống cơ sở dữ liệu để thay thế thành phần hồ sơ. VCCI đề nghị mở rộng nguyên tắc này thành quy định chung áp dụng cho tất cả các thủ tục hành chính trong Nghị quyết, theo đó bất kỳ thành phần hồ sơ nào đã có trên các cơ sở dữ liệu quốc gia (dân số, doanh nghiệp, thuế, đất đai, bảo hiểm xã hội) thì tổ chức, cá nhân không phải nộp, cơ quan giải quyết thủ tục hành chính có trách nhiệm tự tra cứu, khai thác.

Thứ tư, về bãi bỏ triệt để yêu cầu nộp hồ sơ giấy đối chứng. Mặc dù dự thảo Nghị quyết đã cho phép nộp hồ sơ trực tuyến tại nhiều thủ tục, một số quy định vẫn yêu cầu song song cả bản giấy và bản điện tử. Theo phản ánh của nhiều doanh nghiệp lớn với VCCI, việc duy trì chế độ báo cáo bằng văn bản giấy song song với điện tử là lãng phí lớn về nhân lực và chi phí, đi ngược lại tinh thần Chính phủ số. Đề nghị bổ sung nguyên tắc chung: đối với các thủ tục đã thực hiện xác thực điện tử thành công thì không yêu cầu nộp bản giấy đối chứng dưới bất kỳ hình thức nào.

Trên đây là ý kiến góp ý của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đối với dự thảo Nghị quyết cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh thuộc các lĩnh vực: Quốc phòng, Nội vụ, Tài chính, Xây dựng, Ngoại giao, Tư pháp, Ngân hàng. VCCI kính đề nghị Bộ Tư pháp tổng hợp, nghiên cứu tiếp thu để hoàn thiện dự thảo trình Chính phủ.

Trân trọng cảm ơn./.

Các văn bản liên quan