Góp ý dự thảo Nghị định về điều kiện đầu tư và hoạt động trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học

Thứ Năm 16:56 11-06-2026

Kính gửi: Bộ Giáo dục và Đào tạo

Trả lời Công văn số 2874/BGDĐT-PC của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc đề nghị góp ý Dự thảo Nghị định quy định về điều kiện đầu tư và hoạt động trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học và kiểm định chất lượng giáo dục (sau đây gọi tắt là Hồ sơ), Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) có một số ý kiến ban đầu như sau:

  1. Thủ tục thành lập, cho phép thành lập cơ sở giáo dục nghề nghiệp, phân hiệu cơ sở giáo dục phân hiệu (Điều 6)

          – Hồ sơ

Tài liệu chứng minh về địa điểm: Điểm b khoản 1 Điều 6 Dự thảo yêu cầu phải có “Hồ sơ pháp lý chứng minh quyền sử dụng đất quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất hoặc văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc giao đất, cho thuê đất để xây dựng cơ sở giáo dục nghề nghiệp …”. Quy định này đang yêu cầu cơ sở giáo dục nghề nghiệp phải “sở hữu” quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, trong khi điểm b khoản 1 Điều 5 Dự thảo chỉ yêu cầu điều kiện “quyền sử dụng hợp pháp” đối với địa điểm xây dựng trụ sở chính. Thuê địa điểm cũng được xem là có quyền sử dụng hợp pháp. Để đảm bảo tính thống nhất, đề nghị bổ sung tại điểm b khoản 1 Điều 6 Dự thảo là hợp đồng thuê địa điểm là một một trong giấy tờ chứng minh có quyền sử dụng hợp pháp đối với địa điểm xây dựng.

Tài liệu chứng minh về năng lực tài chính: điểm d khoản 1 Điều 6 Dự thảo quy định tài liệu chứng minh về năng lực tài chính đối với cơ sở giáo dục nghề nghiệp tư thục là: “tài liệu chứng minh vốn thực góp của chủ sở hữu” là một trong các giấy tờ sau “văn bản xác nhận của ngân hàng, tổ chức tín dụng hợp pháp về số vốn góp trong tài khoản của nhà đầu tư; minh chứng về quyền sở hữu tài sản kèm theo chứng thư giám định tài sản góp vốn của tổ chức định giá hợp pháp nếu góp vốn bằng tài sản”. Quy định này cần xem xét lại trong trường hợp nhà đầu tư là doanh nghiệp. Theo quy định tại Luật Doanh nghiệp 2020, các thành viên/cổ đông sáng lập góp vốn bằng tài sản có quyền tự định giá tài sản góp vốn theo nguyên tắc đồng thuận và tự chịu trách nhiệm liên đới về kết quả định giá. Việc Dự thảo yêu cầu phải có chứng thư giám định tài sản góp vốn là chưa phù hợp với quy định của pháp luật doanh nghiệp về định giá tài sản góp vốn vào doanh nghiệp.

Mặt khác, dự thảo yêu cầu phải có văn bản xác nhận của ngân hàng, tổ chức tín dụng hợp pháp về số vốn góp trong tài khoản của nhà đầu tư tại thời điểm xin cấp phép thành lập cần cân nhắc xem xét lại. Việc có xác nhận số dư của nhà đầu tư tại thời điểm xin cấp phép chưa thể khẳng định được nhà đầu tư có số vốn đó vì nhà đầu tư có thể rút ngay sau thời điểm xin giấy xác nhận. Thay vì yêu cầu có văn bản xác nhận số vốn góp trong tài khoản, đề nghị xem xét điều chỉnh theo hướng có cam kết bảo lãnh của ngân hàng về việc cấp vốn.

– Hồ sơ thành lập, cho phép thành lập phân hiệu

Đoạn 2 điểm a khoản 2 Điều 6 Dự thảo quy định trường hợp thành lập mới phân hiệu phải có “văn bản chấp thuận của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi cơ sở giáo dục nghề nghiệp dự kiến đặt phân hiệu, trừ trường hợp đặt phân hiệu cùng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương với trụ sở chính”. Quy định này có tính chất là “giấy phép con” và không rõ về tiêu chí, trình tự, thủ tục để có được văn bản chấp thuận này. Mặt khác, xét về tính hợp lý và thống nhất, yêu cầu phải có sự chấp thuận của UBND cấp tỉnh không thuộc bất kì điều kiện nào về việc thành lập phân hiệu mới quy định tại điểm b khoản 2 Điều 5 Dự thảo. Đề nghị bỏ quy định này.

Góp ý tương tự đề nghị bỏ yêu cầu phải có “văn bản chấp thuận của UBND cấp tỉnh nơi dự kiến đặt phân hiệu” đối với quy định về trường hợp thành lập phân hiệu trên cơ sở giáo dục đang hoạt động hợp pháp; bỏ yêu cầu phải có “văn bản chấp thuận về việc thay đổi trụ sở chính, phân hiệu của UBND cấp tỉnh nơi dự kiến đặt trụ sở chính hoặc phân hiệu mới” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 16

Về yêu cầu phải có hợp đồng thuê cơ sở vật chất gắn liền với đất còn thời hạn ít nhất 15 năm kể từ ngày gửi hồ sơ cần xem xét lại. Bởi vì, việc yêu cầu cứng thời hạn trong hợp đồng thuê đất là chưa phù hợp với tính chất của giao dịch dân sự. Các bên trong hợp đồng thuê đất có thể tự do thỏa thuận về thời hạn thuê đất, và thời hạn này có thể bị phá vỡ trong quá trình thực hiện nếu một trong hai bên đơn phương chấm dứt hợp đồng. Do vậy, ngay cả khi yêu cầu thời hạn cứng trong hợp đồng thuê đất thì cũng không đảm bảo hợp đồng này có thể được thực hiện theo đúng thời hạn này mà không bị chấm dứt từ một phía theo cơ chế dân sự. Do đó, yêu cầu cầu thời hạn cứng này cũng ít ý nghĩa. Để đảm bảo tính hợp lý, đề nghị bỏ quy định về thời hạn ít nhất 15 năm trong hợp đồng thuê cơ sở vật chất gắn liền với đất.

  1. Sáp nhập, chia, tách cơ sở giáo dục nghề nghiệp; sáp nhập cơ sở giáo dục nghề nghiệp vào cơ sở giáo dục đại học (Điều 7)

          Về trình tự thực hiện thủ tục sáp nhập, chia, tách cơ sở giáo dục nghề nghiệp, điểm b khoản 2 Điều 7 Dự thảo quy định trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, cơ quan có thẩm quyền sẽ thẩm định và đưa ra quyết định cho phép sáp nhập, chia, tách cơ sở giáo dục nghề nghiệp, trong trường hợp hồ sơ không hợp lệ hoặc không quyết định chia tách, sáp nhập thì có văn bản trả lời. Như vậy, theo quy định này thì thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, cơ quan nhà nước sẽ thẩm định, xem xét hồ sơ hợp lệ và có ý kiến trả lời. Tuy nhiên, Dự thảo không có quy định như thế nào được cho là hồ sơ hợp lệ và việc gộp chung thời gian thẩm định hồ sơ với thời gian xem xét hợp lệ của hồ sơ khiến cho thủ tục trở nên thiếu rõ ang.

          Để đảm bảo tính minh bạch của thủ tục, đề nghị thiết kế lại quy định này theo hướng:

          – Phân tách thời gian xem xét tính hợp lệ của hồ sơ với thời hạn thẩm định riêng. Thời gian xem xét tính hợp lệ của hồ sơ là 1-2 ngày làm việc tính từ ngày nhận được hồ sơ.

          – Thời gian thẩm định hồ sơ tính từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, sau thời gian thẩm định sẽ ban hành quyết định chấp thuận hoặc từ chối việc chia, tách, sáp nhập.

  1. Giải thể, cho phép giải thể cơ sở giáo dục nghề nghiệp, phân hiệu của cơ sở giáo dục nghề nghiệp (Điều 8)

Điều 8 Dự thảo quy định về các trường hợp giải thể cơ sở giáo dục nghề nghiệp, phân hiệu của cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong đó có trường hợp “cơ quan, tổ chức, cá nhân đề nghị thành lập hoặc cho phép thành lập cơ sở giáo dục nghề nghiệp, phân hiệu của cơ sở giáo dục nghề nghiệp đề nghị giải thể hoặc cho phép giải thể”. Đối với trường hợp này, sau khi nhận hồ sơ cơ quan nhà nước sẽ xem xét chấp thuận hoặc không chấp thuận việc giải thể. Tuy nhiên, Dự thảo không có quy định trường hợp nào được giải thể và trường hợp nào không được giải thể, điều này khiến cho quy định trở nên thiếu rõ ang. Để đảm bảo tính minh bạch, đề nghị quy định rõ điều kiện giải thể trong trường hợp tổ chức, cá nhân chủ động đề nghị.

Góp ý tương tự, đề nghị quy định rõ điều kiện giải thể trong trong trường hợp tổ chức, cá nhân chủ động đề nghị đối với trường hợp giải thể cơ sở giáo dục đại học quy định tại Điều 22 Dự thảo.

  1. Thủ tục cấp phép hoạt động giáo dục nghề nghiệp (Điều 10)

– Về hồ sơ

Theo quy định tại khoản 2 Điều 10 Dự thảo, trong hồ sơ xin cấp phép hoạt động giáo dục nghề nghiệp, phải thuyết minh các điều kiện để được cấp phép và “chỉ kèm theo minh chứng tương ứng đối với thông tin, dữ liệu chưa có trong cơ sở dữ liệu của cơ quan nhà nước hoặc chưa được kết nối, chia sẻ theo quy định của pháp luật”. Quy định này được hiểu nhằm giảm tải tài liệu, hồ sơ giấy tờ cho đối tượng thực hiện thủ tục hành chính, nhưng xét về tính minh bạch lại chưa đủ rõ ang ở điểm: Không rõ loại dữ liệu, thông tin nào đã có trong cơ sở dữ liệu của cơ quan nhà nước? Thời điểm nào các loại dữ liệu, thông tin này được kết nối, chia sẻ giữa các cơ quan nhà nước với nhau? Ngay bản ang Dự thảo cũng chưa xác định được thời điểm này, do đó sẽ gây khó cho tổ chức, cá nhân khi thực hiện thủ tục do không biết mình phải cung cấp tài liệu nào trong hồ sơ xin cấp phép.

Để đảm bảo tính thuận lợi trong quá trình thực hiện, đề nghị quy định theo hướng tổ chức, cá nhân chỉ cần cung cấp bản thuyết minh các điều kiện để được cấp phép mà không cần đính kèm các thông tin, dữ liệu chứng minh. Các thông tin này sẽ được cơ quan nhà nước kiểm tra trong hệ thống thông tin (nếu đã được tích hợp và chia sẻ) hoặc sẽ được kiểm tra trong công tác hậu kiểm sau này.

– Về trình tự thực hiện

Đoạn 2 khoản 3 Điều 10 Dự thảo quy định, đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực sức khỏe, pháp luật, quốc phòng và an ninh, người có thẩm quyền cấp phép phải lấy ý kiến của cơ quan quản lý chuyên môn về ngành, lĩnh vực đó theo phân cấp quản lý trước khi cấp phép hoạt động giáo dục nghề nghiệp.

Quy định này là chưa rõ ở các điểm: i) các cơ quan quản lý chuyên ngành, lĩnh vực đó theo phân cấp quản lý là các cơ quan nào (ở trung ương hay địa phương); ii) thời hạn lấy ý kiến và trách nhiệm trả lời của các cơ quan được lấy ý kiến như thế nào?; iii) các cơ quan này sẽ cho ý kiến gì về điều kiện hoạt động của cơ sở giáo dục nghề nghiệp?

Mặt khác, xét về tính hợp lý, khi thực hiện thủ tục xin cấp phép hoạt động, cơ sở giáo dục đã có quyết định thành lập của cơ quan có thẩm quyền. Các cơ quan có thẩm quyền đã xem xét điều kiện thành lập, trong đó có điều kiện phù hợp với mạng lưới quy hoạch cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Vì vậy, trong giai đoạn cấp phép hoạt động, lại phải trải qua thủ tục xin ý kiến các cơ quan quản lý chuyên ngành là không cần thiết.

Để đảm bảo đơn giản hóa thủ tục hành chính, đề nghị quy định trao quyền angơ quan cấp phép tự quyết định mà không cần phải xin ý kiến các cơ quan quản lý khác.

  1. Các trường hợp đình chỉ tuyển sinh, đình chỉ hoạt động giáo dục nghề nghiệp (Điều 11)

Đề nghị bỏ quy định dạng quét “các trường hợp khác theo quy định của pháp luật liên quan” trong các trường hợp cơ sở giáo dục bị đình chỉ tuyển sinh, đình chỉ hoạt động vì quy định này là thiếu rõ ang, trong khi văn bản này điều chỉnh toàn bộ về các hoạt động của cơ sở giáo dục nghề nghiệp, các văn bản khác (nếu có) cũng sẽ dẫn chiếu tới quy định liên quan tới giáo dục nghề nghiệp của Nghị định này.

Đề nghị rà soát toàn bộ Dự thảo để bỏ các quy định có tính chất tương tự như thế này.

  1. Các trường hợp thu hồi quyết định thành lập, cho phép thành lập cơ sở giáo dục nghề nghiệp hoặc quyết định cấp phép hoạt động giáo dục nghề nghiệp (Điều 13)

Điểm a khoản 1 Điều 13 Dự thảo quy định “mục tiêu và nội dung hoạt động trong quyết định thành lập hoặc cho phép thành lập cơ sở giáo dục nghề nghiệp không còn phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội” thuộc trường hợp cơ sở giáo dục nghề nghiệp bị thu hồi quyết định thành lập hoặc cho phép thành lập. Đây là trường hợp có tiêu chí chung chung, khó định lượng và không rõ tiêu chí để đánh giá, nhất là với cơ sở giáo dục nghề nghiệp tư thục. Thu hồi quyết định thành lập, cho phép thành lập là chế tài tác động rất lớn đến cơ sở giáo dục nghề nghiệp, vì vậy cần phải xác định các trường hợp thu hồi đủ rõ ang, hợp lý. Để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư vào cơ sở giáo dục nghề nghiệp, đề nghị bỏ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 13, trong trường hợp vẫn giữ trường hợp này, đề nghị chỉ áp dụng đối với cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập, vì Nhà nước sẽ biết việc cơ sở giáo dục nghề nghiệp do mình lập ra còn đáp ứng với yêu cầu hay không.

Góp ý tương tự, đề nghị bỏ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 27 hoặc đây là điều kiện áp dụng đối với cơ sở giáo dục đại học công lập.

  1. Thủ tục thành lập, cho phép thành lập cơ sở giáo dục đại học, phân hiệu của cơ sở giáo dục đại học (Điều 20)

– Về hồ sơ

Điểm b khoản 1 Điều 20 Dự thảo quy định trong hồ sơ xin cấp phép phải có “văn bản chấp thuận của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi cơ sở giáo dục đại học đặt trụ sở chính”. Đây là một dạng “giấy phép con”, không rõ về mục tiêu quản lý, Dự thảo cũng không quy định về trình tự, thủ tục, tiêu chí để có được văn bản chấp thuận này. Một trong những điều kiện để được cấp giấy phép thành lập cơ sở giáo dục đại học là “phù hợp với quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt”, nếu cơ sở giáo dục đào tạo đã phù hợp với quy hoạch thì cần có sự chấp thuận của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh dường như là quá mức cần thiết. Mặt khác, trong Hội đồng thẩm định hồ sơ xin cấp phép thành lập cơ sở giáo dục đại học, đại diện UBND cấp tỉnh nơi cơ sở giáo dục đặt trụ sở chính là thành viên. Những ý kiến của UBND cấp tỉnh trong Hội đồng sẽ thể hiện quan điểm của mình về việc thành lập cơ sở giáo dục. Do đó, yêu cầu trước đó phải xin chấp thuận của UBND cấp tỉnh là không cần thiết, chồng lấn và gây khó ang cho thủ tục thành lập cơ sở giáo dục đào tạo.

 Đề nghị bỏ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 20.

Góp ý tương tự đối với quy định “văn bản chấp thuận của UBND cấp tỉnh về việc thành lập phân hiệu tại địa phương” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 20

          – Về trình tự thực hiện thủ tục thành lập, cho phép thành lập cơ sở giáo dục đại học

Theo quy định tại khoản 3 Điều 20 Dự thảo trình tự thực hiện thủ tục thành lập, cho phép thành lập cơ sở giáo dục đào tạo sẽ đi theo các bước sau: 1) Sau khi nhận hồ sơ hợp lệ, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ thành lập Hội đồng thẩm định gồm đại diện của các Bộ: Giáo dục và Đào tạo; Nội vụ; Tài chính và UBND cấp tỉnh nơi cơ sở giáo dục đặt trụ sở chính; 2) sau khi Hội đồng thẩm định có ý kiến thẩm định, nếu có yêu cầu sửa đổi sẽ yêu cầu tổ chức, cá nhân đề nghị thành lập hoàn thiện hồ sơ; 3) Sau khi hồ sơ hoàn thiện, Bộ Giáo dục và Đào tạo lấy ý kiến của Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ và các đơn vị, liên quan khác về việc thành lập cơ sở giáo dục đại học; 4) tổ chức, cá nhân hoàn thiện hồ sơ theo ý kiến của các cơ quan liên quan; 5) sau khi nhận được đầy đủ ý kiến nhất trí của các cơ quan, đơn vị liên quan hoặc nhận được hồ sơ hoàn thiện theo ý kiến của các cơ quan liên quan, Hội đồng thẩm định sẽ rà soát, tham mưu Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo xem xét và ban hành quyết định.

          Quy trình xem xét quyết định cho phép thành lập cơ sở giáo dục đại học ở trên quá phức tạp và kéo dài, cụ thể:

          + Có hai vòng lấy ý kiến của cùng một cơ quan: Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính cho ý kiến đối với hồ sơ xin cấp phép với tư cách là thành viên của Hội đồng thẩm định và với tư cách là cơ quan quản lý sau khi tổ chức, cá nhân xin phép thành lập hoàn thiện hồ sơ. Khi các chủ thể xin cấp phép hoàn thiện hồ sơ theo ý kiến của Hội đồng thẩm định, lúc này Hội đồng thẩm định cần phải đánh giá việc hoàn thiện hồ sơ có phù hợp không, việc tổ chức lấy ý kiến các cơ quan quản lý như Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính vừa không thể hiện được vai trò của Hội đồng thẩm định vừa khiến cho thủ tục trở nên phức tạp, vai trò của các Bộ trở nên thiếu rõ ang, chồng chéo.

          + Trong quy trình thẩm định, không quy định rõ phạm vi có ý kiến của các Bộ, ngành liên quan đối với việc thành lập cơ sở giáo dục đại học. Điều này khiến cho quy trình này trở nên thiếu rõ ang

          + Sau khi chủ thể xin phép thành lập hoàn thiện hồ sơ, việc tiếp tục lấy ý kiến hồ sơ hoàn thiện và mở rộng ra cả “các cơ quan, đơn vị liên quan khác” có thể khiến việc lấy ý kiến này bị mở rộng quá mức và thủ tục trở nên phức tạp, kéo dài.

          + Không rõ thời hạn các cơ quan được lấy ý kiến phải có ý kiến là bao lâu. Sự thiếu rõ ang về thời hạn có thể khiến thủ tục này kéo dài vô thời hạn.

Để đảm bảo tinh thần đơn giản hóa thủ tục hành chính, đề nghị:

          + Thiết kế lại quy trình thẩm định theo hướng, chỉ cần hoàn thiện hồ sơ theo ý kiến của Hội đồng thẩm định và Hội đồng có trách nhiệm rà soát, đánh giá xem đã thể hiện đầy đủ ý kiến của Hội đồng hay chưa. Không quy định phải xin ý kiến của các cơ quan liên quan đối với hồ sơ tổ chức, cá nhân xin phép thành lập hoàn thiện theo ý kiến của Hội đồng thẩm định;

          + Hội đồng thẩm định thể hiện vai trò của mình trong hoạt động thẩm định và ý kiến của Hội đồng thẩm định là cơ sở để Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo xem xét, ban hành quyết định cho phép thành lập cơ sở giáo dục đào tạo hay không.

Góp ý tương tự đối với trình tự, thủ tục thành lập, cho phép thành lập phân hiệu của cơ sở giáo dục đào tạo quy định tại khoản 4 Điều 20 Dự thảo.

  1. Sáp nhập, chia, tách cơ sở giáo dục đại học (Điều 21)

Theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Dự thảo trong hồ sơ đề nghị phải có văn bản đề nghị và ý kiến của UBND cấp tỉnh nơi đặt trụ sở chính của cơ sở giáo dục đại học sau khi sáp nhập, chia, tách.

Không rõ UBND cấp tỉnh sẽ cho ý kiến gì đối với việc sáp nhập, chia, tách cơ sở giáo dục đại học? Trong khi đó, thành viên của Hội đồng thẩm định việc sáp nhập, chia, tách cơ sở giáo dục cũng có đại diện của UBND cấp tỉnh nơi đặt trụ sở chính của cơ sở giáo dục đại học. Như vậy, UBND cấp tỉnh sẽ có ý kiến hai lần cho một vấn đề. Điều này là quá mức cần thiết và làm cho thủ tục trở nên phức tạp. Đề nghị bỏ quy định phải có ý kiến của UBND cấp tỉnh nơi đặt trụ sở chính của cơ sở giáo dục đại học sau khi sáp nhập, chia, tách tại thời điểm gửi văn bản đề nghị quy định tại khoản 2 Điều 21 Dự thảo.

  1. Thay đổi địa điểm đào tạo của cơ sở giáo dục đại học (Điều 30)

Đề nghị bỏ yêu cầu phải có văn bản chấp thuận về việc thay đổi trụ sở chính, phân hiệu của UBND cấp tỉnh nơi dự kiến đặt trụ sở chính hoặc phân hiệu mới. Tương tự như phân tích ở trên, đây là thủ tục không cần thiết và thiếu rõ ang về trình tự, thủ tục cũng như tiêu chí để chấp thuận.

Trên đây là một số ý kiến ban đầu của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đối với Dự thảo Nghị định quy định về điều kiện đầu tư và hoạt động trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học và kiểm định chất lượng giáo dục. Rất mong cơ quan soạn thảo cân nhắc để chỉnh sửa, hoàn thiện Dự thảo này.

Trân trọng cảm ơn sự hợp tác của Quý Cơ quan./.