Góp ý Dự thảo Nghị định sửa đổi các Nghị định hướng dẫn Luật PPP

Thứ Năm 17:24 23-07-2026

Kính gửi: Bộ Tư pháp

Trả lời Công văn số 912/GM-BTP ngày 11 tháng 7 năm 2026 của Bộ Tư Pháp về việc tham dự cuộc họp, phát biểu ý kiến thẩm định đối với hồ sơ dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư (sau đây gọi tắt là Dự thảo), Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) ghi nhận và đánh giá cao nỗ lực của Bộ Tư pháp và Ban soạn thảo trong việc rà soát, sửa đổi các quy định nhằm tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về đầu tư theo phương thức đối tác công tư, góp phần tháo gỡ khó ang, vướng mắc trong quá trình triển khai các dự án PPP, đặc biệt là các dự án hợp đồng xây dựng – chuyển giao (BT). Để tiếp tục hoàn thiện Dự thảo, VCCI tổng hợp và chuyển một số ý kiến của doanh nghiệp như sau:

  1. Đối với các nội dung sửa đổi, bổ sung Nghị định số 257/2025/NĐ-CP

1.1. Về cơ chế giao quỹ đất thanh toán và bảo lãnh giá trị quỹ đất (khoản 4 Điều 16)

Tại Khoản 4 Điều 16 Nghị định số 257/2025/NĐ-CP hiện hành quy định cơ chế giao quỹ đất thanh toán và yêu cầu nộp bảo lãnh ngân hàng thương mại chỉ áp dụng đối với các dự án có tổng mức đầu tư từ 20.000 tỷ đồng trở lên. Phản ánh từ nhiều doanh nghiệp cho thấy giới hạn này chưa thực sự đáp ứng tiêu chí khả thi và hiệu quả của chính sách.

Thứ nhất, trên thực tế số lượng dự án đạt ngưỡng 20.000 tỷ đồng trở lên là rất ít, hầu hết các dự án trọng điểm cấp địa phương có nhu cầu huy động vốn lớn chỉ dao động từ 10.000 tỷ đồng đến dưới 20.000 tỷ đồng. Việc giữ nguyên ngưỡng này sẽ khiến chính sách bị bó hẹp phạm vi áp dụng, không phát huy được hiệu quả hỗ trợ của Nhà nước cho phần lớn các dự án thực tế, đi ngược lại tinh thần kiến tạo phát triển của Chính phủ.

Thứ hai, quy định bắt buộc giao toàn bộ quỹ đất một lần là không khả thi do tiến độ giải phóng mặt bằng (GPMB) tại địa phương thường kéo dài và không đồng bộ. Việc cho phép giao đất từng phần hoặc theo phân kỳ đầu tư tương ứng với giá trị bảo lãnh ngân hàng và khối lượng công trình thực tế hoàn thành sẽ giúp giảm chi phí bảo lãnh ngân hàng cho doanh nghiệp, tháo gỡ khó ang về mặt bằng sạch mà vẫn bảo đảm tuyệt đối an toàn quản lý tài sản công theo nguyên tắc của Luật Quản lý, sử dụng tài sản công.

Vì vậy, đề nghị sửa đổi khoản 4 Điều 16 theo hướng: (i) Hạ tổng mức đầu tư tối thiểu áp dụng cơ chế này xuống từ 10.000 tỷ đồng trở lên; (ii) Cho phép giao quỹ đất thanh toán một lần, từng phần, theo phân kỳ đầu tư hoặc theo giá trị hạng mục công trình; (iii) Cho phép giá trị bảo lãnh ngân hàng được xác định tương ứng với giá trị quỹ đất hoặc giá trị hạng mục công trình được giao trong từng giai đoạn thay vì bắt buộc bảo lãnh toàn bộ giá trị công trình dự án.

1.2. Về việc điều chỉnh quỹ đất dự kiến thanh toán (đề nghị bổ sung khoản 2a Điều 19)

Dự thảo chưa quy định cơ chế xử lý khi cần điều chỉnh vị trí, diện tích hoặc giá trị quỹ đất dự kiến thanh toán trong quá trình chuẩn bị dự án mà không làm thay đổi mục tiêu, quy mô của dự án BT. Thực tế, việc xác định chính xác thông tin quỹ đất ngay từ bước quyết định chủ trương đầu tư là rất khó ang do biến động quy hoạch xây dựng và kế hoạch sử dụng đất địa phương.

Nếu mọi trường hợp điều chỉnh nhỏ về quỹ đất đối ứng đều buộc phải thực hiện lại thủ tục điều chỉnh chủ trương đầu tư sẽ làm phát sinh chi phí hành chính và chi phí thời gian rất lớn cho doanh nghiệp, kéo dài thời gian chuẩn bị dự án ang nhiều tháng, cản trở tính khả thi và làm chậm tiến độ khơi thông nguồn lực đầu tư xã hội.

Do đó, đề nghị bổ sung khoản 2a Điều 19 theo hướng cho phép cơ quan có thẩm quyền quyết định hoặc điều chỉnh nội dung quỹ đất dự kiến thanh toán tại bước phê duyệt dự án BT (hoặc phê duyệt thiết kế kỹ thuật) mà không phải thực hiện thủ tục điều chỉnh chủ trương đầu tư, miễn là việc điều chỉnh không làm thay đổi mục tiêu, quy mô của dự án và đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật.

1.3. Về nghiệm thu, thanh toán khối lượng và chi phí đầu tư thực hiện trước khi ký kết hợp đồng BT (khoản 7 Điều 10)

Tại Khoản 7 Điều 10 Nghị định số 257/2025/NĐ-CP cho phép cơ quan có thẩm quyền giao nhà đầu tư triển khai xây dựng công trình dự án BT đồng thời với quá trình đàm phán, ký kết hợp đồng đối với một số dự án cấp bách. Quy định này giúp đẩy nhanh tiến độ nhưng chưa giải quyết được bài toán chi phí phát sinh trước hợp đồng.

Trong giai đoạn triển khai song song này, doanh nghiệp phải huy động vốn đầu tư và phát sinh chi phí lãi vay thực tế cùng khối lượng xây dựng đáng kể. Việc dự thảo không quy định cơ chế ghi nhận, nghiệm thu và thanh toán các khoản chi phí hợp pháp này trực tiếp đẩy toàn bộ rủi ro tài chính về phía nhà đầu tư, làm ang gánh nặng chi phí tuân thủ và triệt tiêu động lực tham gia của khu vực tư nhân đối với các công trình công cộng.

Để đảm bảo sự công bằng, minh bạch và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ theo yêu cầu cấp bách của Nhà nước, đề nghị bổ sung quy định rõ ang tại khoản 7 Điều 10 theo hướng: Khối lượng công trình và các chi phí đầu tư xây dựng hợp pháp, bao gồm cả chi phí lãi vay phát sinh theo thực tế giải ngân trước khi ký hợp đồng BT, được nghiệm thu và thanh toán sau khi hợp đồng BT được ký kết theo đúng quy định pháp luật về quản lý chi phí đầu tư xây dựng.

1.4. Về việc điều chỉnh dự án khi thay đổi quy hoạch (Điều 8 và Điều 19)

Điều 8 và Điều 19  Nghị định số 257/2025/NĐ-CP đang chưa thống nhất, cụ thể, khi quy hoạch chung, quy hoạch phân khu hoặc quy hoạch chi tiết được điều chỉnh dẫn đến thay đổi vị trí quỹ đất dự kiến thanh toán: Khoản 3 Điều 19 quy định thực hiện thủ tục điều chỉnh dự án và ký kết phụ lục hợp đồng; trong khi Điểm c Khoản 10 Điều 8 lại yêu cầu thực hiện thủ tục điều chỉnh chủ trương đầu tư dự án BT.

Sự không thống nhất này tạo ra xung đột pháp lý trực tiếp, khiến các địa phương lúng túng trong áp dụng pháp luật, dễ dẫn đến xu hướng áp đặt thủ tục phức tạp hơn (điều chỉnh chủ trương đầu tư) để an toàn angơ quan nhà nước, vô hình trung gây ách tắc dự án và ang gánh nặng thủ tục hành chính, chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp.

Do vậy, đề nghị Ban soạn thảo điều chỉnh thống nhất các quy định tại Điều 8 và Điều 19 theo hướng: Trường hợp điều chỉnh quy hoạch dẫn đến thay đổi vị trí quỹ đất thanh toán mà không làm thay đổi mục tiêu, quy mô và các nội dung cơ bản của dự án BT thì chỉ thực hiện thủ tục điều chỉnh dự án và hợp đồng, không phải thực hiện thủ tục điều chỉnh chủ trương đầu tư.

  1. Đối với các nội dung sửa đổi, bổ sung Nghị định số 312/2025/NĐ-CP

2.1. Về quy định xác định lãi suất huy động vốn (Điều 11)

Quy định hiện tại tại Điều 11 Nghị định số 312/2025/NĐ-CP chỉ hướng dẫn xác định lãi suất tham chiếu phục vụ cho bước lập và thẩm định phương án tài chính dự án, nhưng hoàn toàn thiếu cơ chế xác định lãi suất khi thanh toán, quyết toán chi phí lãi vay thực tế trong quá trình thực hiện dự án.

Việc thiếu minh bạch này dẫn đến rủi ro chênh lệch lớn giữa lãi suất tham chiếu cố định tại thời điểm lập dự án và lãi suất vay thực tế biến động trên thị trường, đẩy toàn bộ rủi ro chênh lệch lãi suất về phía nhà đầu tư, đặc biệt là trong các chu kỳ lãi suất ang cao. Ngoài ra, việc thiếu căn cứ rõ ang dễ dẫn đến cơ chế thỏa thuận ngầm, thiếu tính công khai, minh bạch của thủ tục hành chính.

Vì vậy, kiến nghị bổ sung quy định rõ ang tại Điều 11 theo hướng: Chi phí lãi vay khi thanh toán, quyết toán dự án BT được xác định trên cơ sở lãi suất huy động vốn thực tế của nhà đầu tư/doanh nghiệp dự án. Trường hợp mức lãi suất vốn vay thực tế cao hơn lãi suất tại phương án tài chính thì vẫn được xem xét chấp thuận nếu có cơ sở chứng minh phù hợp mặt bằng lãi suất cho vay trung và dài hạn thực tế của một trong bốn ngân hàng thương mại nhà nước lớn (BIDV, Vietcombank, Agribank, Vietinbank) trên địa bàn dự án tại thời điểm giải ngân.

Trên đây là tổng hợp ý kiến của doanh nghiệp gửi VCCI, kính đề nghị Bộ Tư pháp nghiên cứu, tiếp thu trong quá trình thẩm định để hoàn thiện Dự thảo.

Trân trọng cảm ơn sự hợp tác của quý Cơ quan./.

Các văn bản liên quan