Góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư

Thứ Năm 17:06 27-08-2026

Kính gửi: Bộ Tư pháp

Trả lời Công văn số 1131/GM-BTP của Bộ Tư pháp về việc đề nghị tham gia Hội đồng thẩm định đối với Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư (sau đây gọi tắt là Dự thảo), Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), trên cơ sở ý kiến của doanh nghiệp, có một số ý kiến ban đầu như sau:

  1. Sửa đổi, bổ sung về ngành, nghề và điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài (khoản 3 Điều 1 Dự thảo)

Khoản 3 Điều 1 Dự thảo bổ sung khoản 3a và khoản 3b vào sau khoản 3 Điều 8 Luật Đầu tư như sau:

“3a. Căn cứ điều kiện kinh tế – xã hội và yêu cầu quản lý nhà nước trong từng thời kỳ, Chính phủ xem xét, quyết định cho phép nhà đầu tư nước ngoài được sở hữu tối đa 100% vốn điều lệ của tổ chức kinh tế hoặc nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường trong các ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài quy định tại các luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nghị định của Chính phủ và điều ước quốc tế về đầu tư.

3b. Căn cứ điều kiện kinh tế – xã hội và yêu cầu quản lý nhà nước trong từng thời kỳ, trường hợp cần thiết để thu hút các dự án đầu tư chiến lược, có tác động lớn đến phát triển kinh tế – xã hội, khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo mà cần có yêu cầu nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài, Chính phủ trình Quốc hội xem xét, quyết định trên cơ sở bảo đảm an ninh, quốc phòng và lợi ích quốc gia, dân tộc.”

Quy định trên trao quyền cho Chính phủ quy định về các ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài sẽ nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường hoặc cho phép nhà đầu tư nước ngoài được sở hữu 100% vốn điều lệ của tổ chức kinh tế. Tuy nhiên quy định này cần được cân nhắc, xem xét ở một số điểm sau:

– Quy định chưa rõ: các trường hợp khoản 3a có được hiểu, mặc dù trong các luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nghị định của Chính phủ và điều ước quốc tế về đầu tư quy định các ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường của nhà đầu tư nước ngoài nhưng Chính phủ có thể quy định cho phép nhà đầu tư nước ngoài được sở hữu tối đa 100% vốn điều lệ của tổ chức kinh tế hoặc nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường hay không? Các trường hợp khoản 3b có được hiểu là Chính phủ sẽ nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường đối với ngành, nghề mà Việt Nam chưa mở không? 

Mặt khác, giữa các trường hợp tại khoản 3a và khoản 3b rất khó để phân biệt với nhau, nội dung của khoản 3a đã bao trùm cả nội dung của khoản 3b.

– Tiêu chí để Chính phủ xác định các ngành nghề nới lỏng điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài còn rất chung chung, điều này khiến cho các quy định tại Luật chưa rõ ràng về định hướng nới lỏng điều kiện tiếp cận các ngành, nghề hạn chế tiếp cận của nhà đầu tư nước ngoài;

– Theo nội dung tại Tờ trình, “có 11/91 ngành, phân ngành quy định điều kiện về hình thức đầu tư là nhà đầu tư nước ngoài chỉ được thành lập liên doanh để được thực hiện các ngành, phân ngành này tại Việt Nam mà không hạn chế về tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài. Điều này có đang được hiểu, 11 ngành, phân ngành này sẽ được mở cho nhà đầu tư nước ngoài tiếp cận mà không giới hạn điều kiện nào ? Ngoài 11 ngành, phân ngành này thì các ngành, phân ngành khác có được cân nhắc, xem xét hay không ?

Đây là một trong những sửa đổi quan trọng tại Dự thảo, vì vậy đề nghị thiết kế lại quy định để làm rõ hơn các vấn đề trên. 

  1. Bổ sung quy định về bảo đảm đầu tư kinh doanh trong trường hợp thay đổi pháp luật (khoản 4 Điều 1 Dự thảo)

Dự thảo bổ sung quy định “Nhà nước có chính sách bảo đảm môi trường đầu tư, kinh doanh minh bạch, ổn định, nhất quán, chi phí tuân thủ thấp, có khả năng dự báo, phù hợp với thông lệ quốc tế, nâng cao cạnh tranh trong khu vực và toàn cầu” vào quy định bảo đảm đầu tư kinh doanh trong trường hợp thay đổi pháp luật. 

Điều 12 Luật Đầu tư đang quy định về bảo đảm đầu tư trong trường hợp thay đổi pháp luật ảnh hưởng đến ưu đãi đầu tư, trong đó Nhà nước sẽ bảo đảm quyền lợi cho nhà đầu tư trong trường hợp pháp luật thay đổi về ưu đãi đầu tư. Việc Dự thảo bổ sung nguyên tắc trên, nhưng không quy định rõ trong trường hợp Nhà nước thay đổi các chính sách ảnh hưởng đến môi trường đầu tư, gia tăng nghĩa vụ, trách nhiệm của nhà đầu tư thì quyền lợi của Nhà đầu tư được đảm bảo như thế nào? Tinh thần của quy định này là rất tích cực, tuy nhiên Dự thảo chỉ quy định chung, mang tính tuyên ngôn mà không có quy định cụ thể, định hướng rõ hơn về quyền lợi của nhà đầu tư, do đó rất khó để áp dụng.

Mặt khác, trong thời gia qua, doanh nghiệp phản ánh tình trạng các chính sách, quy định pháp luật thay đổi nhanh, nhiều gây khó khăn trong áp dụng. Vì vậy, nguyên tắc này có nguy cơ rất khó để đảm ứng.

Đề nghị cân nhắc lại tính khả thi và quy định cụ thể hơn về biện pháp bảo đảm đầu tư kinh doanh cho nhà đầu tư mới này.

  1. Sửa đổi, bổ sung quy định về lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án (khoản 10 Điều 1 Dự thảo) và dự án thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư (khoản 11 Điều 24)

Dự thảo sửa đổi các điều khoản liên quan quan đến lựa chọn nhà đầu tư và dự án thuộc diện chấp thuận nhà đầu tư để đơn giản thủ tục đối với các dự án cần giao khu vực biển. Tuy nhiên, quy định tại Dự thảo vẫn chưa giải quyết được tính thống nhất với pháp luật tài nguyên môi trường, biển và hải đảo, cụ thể:

Khoản 11 Điều 24 Dự thảo sửa đổi quy định về “dự án đầu tư có đề nghị Nhà nước giao khu vực biển” thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư theo hướng loại trừ “trường hợp khác theo quy định của Chính phủ”. Quy định này đang được hiểu, ngoài những trường hợp không phải chấp chuận chủ trương đầu tư theo quy định của Chính phủ, các dự án đầu tư có đề nghị Nhà nước giao khu vực biển sẽ thuộc trường hợp phải chấp thuận chủ trương đầu tư.

Theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 23 Luật Đầu tư, sau khi chấp thuận chủ trương đầu tư sẽ thực hiện lựa chọn nhà đầu tư theo phương thức đấu giá, đấu thầu hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời chấp thuận nhà đầu tư. Trường hợp chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời chấp thuận nhà đầu tư đã được bổ sung vào khoản 4 Điều 23. Tuy nhiên, đối với trường hợp đấu giá hoặc đấu thầu, khoản 1 Điều 23 Luật Đầu tư đang quy định “Đấu giá quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai”. Với quy định này thì dự án đầu tư đề nghị giao khu vực biển sẽ không biết thực hiện như thế nào, trong khi đó Dự thảo Luật Tài nguyên môi trường, biển và hải đảo đang quy định các trường hợp đấu giá để được giao khu vực biển.

Để đảm bảo tính thống nhất đề nghị sửa đổi khoản 1 Điều 23 Luật Đầu tư theo hướng bổ sung “đấu giá giao khu vực biển theo quy định của pháp luật”.

 

  1. Sửa đổi thời hạn hoạt động, tiến độ thực hiện dự án đầu tư (khoản 13 Điều 1 Dự thảo)

Dự thảo sửa đổi khoản 2 Điều 31 Dự thảo như sau: “Thời hạn hoạt động của dự án đầu tư ngoài khu kinh tế không quá 50 năm. Dự án đầu tư thực hiện tại địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn hoặc dự án đầu tư có vốn đầu tư lớn nhưng thu hồi vốn chậm; dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghệ cao, khu công nghiệp công nghệ cao, khu công nghiệp sinh thái, khu công nghệ số tập trung; dự án thuộc diện ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt quy định tại khoản 2 Điều 17 của Luật này thì thời hạn hoạt động của dự án đầu tư có thể dài hơn nhưng không quá 70 năm.”.

Theo quy định trên, dự án có vốn đầu tư lớn nhưng thu hồi vốn chậm có thể được áp dụng thời hạn hoạt động đến 70 năm. Tuy nhiên hiện nay pháp luật chưa có tiêu chí cụ thể để xác định trường hợp này. Trên thực tế cơ quan có thẩm quyền và nhà đầu tư gặp khó khăn khi xem xét, xác định thời hạn hoạt động của dự án.

Quy mô vốn và thời gian thu hồi vốn phụ thuộc vào loại hình, quy mô dự án và điều kiện kinh tế – xã hội của từng địa phương. Do đó, doanh nghiệp đề nghị giao Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành tiêu chí cụ thể sẽ tạo căn cứ công khai, minh bạch, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương.

Do vậy, doanh nghiệp đề nghị sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 31 Dự thảo như sau: “2. Thời hạn hoạt động của dự án đầu tư ngoài khu kinh tế không quá 50 năm. Dự án đầu tư thực hiện tại địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn hoặc dự án đầu tư có vốn đầu tư lớn nhưng thu hồi vốn chậm theo tiêu chí của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ban hành; dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghệ cao, khu công nghiệp công nghệ cao, khu công nghệ số tập trung; dự án thuộc diện ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt quy định tại khoản 2 Điều 17 của Luật này thì thời hạn hoạt động của dự án đầu tư có thể dài hơn nhưng không quá 70 năm.”

Theo quy định tại điểm b khoản 5 Điều 31, dự án đầu tư thuộc trường hợp phải chuyển giao không bồi hoàn tài sản cho Nhà nước Việt Nam hoặc bên Việt Nam không thuộc trường hợp được gia hạn dự án đầu tư. Theo phản ánh của doanh nghiệp, trên thực tế, dự án đầu tư bất động sản của nhà đầu tư nước ngoài hoạt động một thời gian và chuyển nhượng một phần dự án cho nhà đầu tư trong nước. Như vậy, thì một phần dự án đầu tư này đã trở thành dự án đầu tư của nhà đầu tư trong nước. Nhưng nếu theo quy định tại điểm b khoản 5 Điều 31 Luật Đầu tư thì dự án đầu tư đã nhận nhận chuyển nhượng này có thể sẽ không được gia hạn thời hạn dự án đầu tư vì vẫn thuộc dự án đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài. Điều này theo doanh nghiệp là chưa hợp lý và không giải quyết được các dự án đang tồn đọng trên thực tế và cũng không phù hợp với tinh thần  của khoản 5 về việc cho phép gia hạn thời hạn dự án khi nhà đầu tư có nhu cầu tiếp tục thực hiện. Vì vậy, để giải quyết cho trường hợp này, doanh nghiệp đề nghị sửa đổi, bổ sung tại Điều 31 theo hướng, đối với những dự án nhận chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần dự án của nhà đầu tư nước ngoài thuộc trường phải chuyển giao không bồi hoàn tài sản cho Nhà nước Việt Nam cho nhà đầu tư trong nước thì thời hạn hoạt động của dự án sau khi nhận chuyển nhượng được thực hiện theo quy định tại khoản 1 và 2 Điều này và được tính kể từ thời điểm nhà đầu tư nhận chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần dự án đầu tư đó và dự án này không phải chuyển giao không bồi hoàn. 

  1. Điều khoản chuyển tiếp (Điều 3)

Doanh nghiệp đề nghị sửa đổi các điều khoản chuyển tiếp Luật Đầu tư như sau:

Bổ sung khoản 10a Điều 52 Luật Đầu tư:

“10a. Dự án đầu tư có vốn đầu tư lớn nhưng thu hồi vốn chậm theo tiêu chí của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ban hành quy định tại khoản 2 Điều 31 của Luật này áp dụng với các dự án đã được triển khai trước ngày Luật này có hiệu lực” để thống nhất với sửa đổi tại khoản 2 Điều 31 ở trên và giải quyết khó khăn trên thực tiễn.

Trên đây là một số ý kiến ban đầu của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đối với Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư. Rất mong cơ quan soạn thảo cân nhắc để chỉnh sửa, hoàn thiện Dự thảo này.

Trân trọng cảm ơn sự hợp tác của Quý Cơ quan./.