Góp ý Dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa

Thứ Ba 16:50 11-08-2026

Kính gửi:  Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể, Bộ Tài chính

Trả lời Công văn số 6547/BTC-DNTN ngày 21/5/2026 của Bộ Tài chính về việc đề nghị góp ý Dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (sau đây gọi tắt là Dự thảo), Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), trên cơ sở ý kiến của doanh nghiệp, có ý kiến ban đầu[1] như sau:

  1. Hỗ trợ có mục tiêu

Điều 5.6 Dự thảo quy định khuyến khích triển khai toàn diện các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (sau đây gọi tắt là SME) để tạo tác động và kết quả thực chất. Hiện nay, các chính sách hỗ trợ chủ yếu được thiết kế theo dạng chương trình phân tán: Nhà nước ban hành nhiều chương trình độc lập, doanh nghiệp đăng ký phụ thuộc vào thời điểm và tính sẵn có của nguồn lực, dẫn đến hiệu quả thụ hưởng chưa cao.

Về bản chất, hỗ trợ doanh nghiệp không chỉ để giải quyết khó khăn ngắn hạn mà hướng tới mục tiêu nâng cao năng lực cạnh tranh cốt lõi và kiến tạo hệ sinh thái doanh nghiệp bền vững. Bên cạnh dải chính sách hỗ trợ diện rộng, đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu, cân nhắc bổ sung cơ chế “Hỗ trợ có mục tiêu” (tập trung nguồn lực vào các đối tượng trọng điểm). Cơ chế này sẽ giúp tập trung nguồn lực công, tránh phân tán.

Theo cơ chế này:

Đối tượng lựa chọn: Nhà nước lựa chọn các SME có tiềm năng phát triển bứt phá (như SME có khả năng chuyển đổi thành doanh nghiệp lớn, hoặc SME hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ, công nghệ cao) phù hợp với mục tiêu của từng chương trình trọng điểm.

Quyền lợi: Doanh nghiệp được ưu tiên tiếp cận đồng bộ cả chính sách hỗ trợ chung và các gói hỗ trợ được thiết kế riêng theo nhu cầu thực tế.

Nghĩa vụ: Doanh nghiệp phải cam kết đạt được các chỉ tiêu tăng trưởng và phát triển cụ thể do Nhà nước đề ra.

  1. Hỗ trợ tiếp cận tín dụng

Điều 8 Dự thảo quy định Nhà nước khuyến khích các tổ chức tín dụng, tài chính phát triển sản phẩm tín dụng, công cụ tài chính phù hợp với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tuy nhiên, cụm từ “khuyến khích” mang tính định hướng chung, thiếu các chế tài hoặc chính sách đòn bẩy cụ thể để điều hướng dòng vốn thực sự chảy vào khu vực SME. Thực tế, nhu cầu tiếp cận vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa là vô cùng nhiều, nhưng các sản phẩm, công cụ tài chính còn chưa đa dạng và phù hợp với khả năng của các doanh nghiệp này. Bên cạnh lý do chung về thị trường tài chính, một lý do khác là lĩnh vực cho vay kinh doanh với doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa thực sự là một lĩnh vực cho vay hấp dẫn như các lĩnh vực kinh doanh khác mà các tổ chức tín dụng, tài chính hiện đang kinh doanh. Vì vậy, để hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận tín dụng, đề nghị cơ quan soạn thảo cân nhắc chính sách khuyến khích tài chính cụ thể, chẳng hạn như ưu đãi nguồn vốn tái cấp vốn, giảm thuế TNDN, hoặc có cơ chế và nguồn tín dụng ưu tiên, ổn định cho sản xuất, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng và nông nghiệp công nghệ cao, với mức giá vốn và thời hạn đủ để doanh nghiệp dự báo được chi phí trong suốt chu kỳ đơn hàng; về thẩm định tín dụng, cần đi theo hướng căn cứ vào dòng tiền hạch toán, hợp đồng và đơn hàng, chất lượng khách hàng, khoản phải thu và lịch sử tuân thủ, thay vì chỉ dựa vào bất động sản thế chấp; hoàn thiện cơ chế định giá và nhận bảo đảm đối với máy móc thiết bị, hàng tồn kho, nguyên vật liệu và khoản phải thu; đồng thời phát triển mạnh tài trợ chuỗi cung ứng và tài trợ theo hợp đồng cho doanh nghiệp nằm trong chuỗi của các tập đoàn lớn.

Khi có các định hướng rõ ràng, các tổ chức tín dụng sẽ chủ động thiết kế các sản phẩm tài chính đa dạng, linh hoạt phù hợp với đặc thù của SME.

  1. Hỗ trợ mặt bằng sản xuất

Điều 10 Dự thảo đưa ra các giải pháp hỗ trợ giúp SME tiếp cận mặt bằng sản xuất chính thức. Tuy nhiên, các giải pháp này cần phải đánh giá tác động với các chủ thể liên quan (ví dụ: chủ thể cung cấp mặt bằng) để đảm bảo hài hòa, cân bằng lợi ích giữa các bên. Nhằm tăng tính khả thi và đảm bảo tính công bằng với các chủ đầu tư khu công nghiệp, đề nghị điều chỉnh một số điểm sau:

Thứ nhất, Điều 10.5 Dự thảo quy định khu (cụm) công nghiệp mới thành lập, không nhận hỗ trợ của Nhà nước nhưng vẫn phải dành không gian cho SME thuê trong vòng 2 năm là chưa phù hợp. Các doanh nghiệp này tự phát triển kết cầu hạ tầng bằng nguồn vốn của mình và phải tự chịu trách nhiệm với kết quả kinh doanh của mình. Việc bắt buộc doanh nghiệp phải tham gia vào chương trình hỗ trợ SME là không phù hợp, ảnh hưởng đến quyền tự do kinh doanh và phương án tài chính của doanh nghiệp. Đề nghị cơ quan soạn thảo bỏ quy định này.

Thứ hai, Điều 10.6 Dự thảo quy định về cách thức hỗ trợ tiền thuê cho SME trong khu (cụm) công nghiệp. Theo đó, chủ đầu tư khu (cụm) công nghiệp sẽ giảm tiền thuê lại cho SME và Nhà nước sẽ hoàn trả lại cho chủ đầu tư. Thực tế, việc xin hoàn tiền từ ngân sách nhà nước sẽ có thể không dễ dàng, thủ tục kéo dài hoặc thời gian nhận tiền rất lâu, trong khi về bản chất, chủ đầu tư đã phải “ứng trước” một khoản tiền để hỗ trợ cho SME. Việc này có thể làm giảm động lực của các chủ đầu tư khi cho SME thuê, có thể dẫn đến chính sách không đạt hiệu quả. Do vậy, đề nghị cơ quan soạn thảo cân nhắc cho phép khấu trừ trực tiếp với các nghĩa vụ khác với nhà nước, như số tiền hoàn có thể khấu trừ trực tiếp vào số tiền thuế chủ đầu tư phải nộp.

Thứ ba, Điều 10.7 Dự thảo quy định Nhà nước hỗ trợ SME thuê nhà, đất là tài sản công không sử dụng. Quy định này giúp tăng quỹ không gian có thể dành cho SME. Tuy nhiên, nhà, đất công thường được thiết kế để phù hợp với hoạt động của các cơ quan nhà nước, và có thể có diện tích rộng. Điều này có thể dẫn đến khó khăn cho doanh SME khi thuê nhà, đất công, chẳng hạn phải bỏ nhiều chi phí ra sửa chữa lại công năng và trang bị các thiết bị phù hợp, hoặc đơn giản là nhà, đất công quá to không phù hợp với nhu cầu của SME. Thay vào đó, để tận dụng nguồn lực này hiệu quả, đề nghị cơ quan soạn thảo cân nhắc theo hướng Nhà nước cho phép một tổ chức, doanh nghiệp thuê lại nhà, đất công để cải tạo thành không gian làm việc chung dành cho SME.

Thứ tư, Điều 10.8 Dự thảo quy định UBND cấp tỉnh định kỳ hàng năm công khai về quỹ đất, diện tích còn trống, cơ sở nhà, đất chưa sử dụng. Tuy nhiên, tần suất công khai hàng năm là quá ít, chưa cập nhật kịp thời sự thay đổi. Các SME cũng không thể đợi đến thời điểm công khai ở hàng năm để quyết định việc đặt trụ sở, nơi sản xuất của mình. Do vậy, đề nghị cơ quan soạn thảo sửa đổi theo UBND cấp tỉnh sẽ công khai thông tin và cập nhật ngay sau khi nhận được thông tin về diện tích mặt bằng còn trống, danh mục nhà, đất công chưa sử dụng.

  1. Hỗ trợ chuyển đổi số

Điều 11.6 Dự thảo quy định Nhà nước hỗ trợ chuyển đổi số. Tuy nhiên, các nội dung hỗ trợ chuyển đổi số tại Điều 11.6 Dự thảo mới dừng lại ở mức cơ bản (như số hóa dữ liệu, phần mềm kế toán) mà chưa đáp ứng được xu hướng chuyển đổi kép. Các SME đang chịu áp lực rất lớn trong việc tuân thủ các chuẩn mực phát triển bền vững nhưng lại gặp rào cản về chi phí khi trang bị các phần mềm chuyên dụng (phần mềm kiểm kê khí nhà kính phần mềm quản lý vòng đời sản phẩm, quản lý thông tin sản phẩm). Do vậy, đề nghị cơ quan soạn thảo cân nhắc bổ sung các chi phí trang bị các phần mềm này vào Điều 11.6 Dự thảo.

Ngoài ra, hiện nay, các thị trường xuất khẩu đều có yêu cầu cao về truy xuất nguồn gốc; vệ sinh, an toàn của sản phẩm. Nếu từng SME tự mua phần mềm để đáp ứng yêu cầu tuân thủ, tổng chi phí mà các SME bỏ ra sẽ lớn. Đề nghị cơ quan soạn thảo cân nhắc chính sách Nhà nước xây dựng Nền tảng dữ liệu sản phẩm quốc gia dung chung. Nền tảng này sẽ nhằm hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa: (1) Thu thập, quản lý và chuẩn hóa dữ liệu sản phẩm, dữ liệu chuỗi cung ứng và dữ liệu môi trường theo tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế; (2) Tạo lập và quản lý hộ chiếu sản phẩm kỹ thuật số tương thích với yêu cầu của thị trường xuất khẩu; (3) Kết nối, liên thông dữ liệu với Cổng thông tin một cửa quốc gia, hệ thống chứng nhận xuất xứ điện tử và các hệ thống quản lý xuất nhập khẩu hiện có. Về mặt chi phí, Nhà nước có thể miễn phí cho SME hoặc ưu đãi mức phí sử dụng.

  1. Chính sách hỗ trợ mở rộng thị trường xuất khẩu

Điều 12.3 Dự thảo quy định về chính sách hỗ trợ mở rộng thị trường xuất khẩu. Tuy nhiên, quy định này còn chung chung, chưa rõ nội hàm và các biện pháp chính sách cụ thể (khác so với khoản 2 cùng điều 12 với nhiều chính sách chi tiết). Trong khi đó, hiện nay, nhiều thị trường chủ lực của Việt Nam áp dụng các hàng rào kỹ thuật mới, đặt ra tiêu chuẩn cao khiến các doanh nghiệp cần nhiều nguồn lực để tuân thủ, gây áp lực lớn cho các SME có hoạt động xuất khẩu. Trong bối cảnh đó, Nhà nước cần các chính sách phù hợp để hỗ trợ SME tuân thủ các quy định này để duy trì và mở rộng đơn hàng xuất khẩu. Đề nghị cơ quan soạn thảo cân nhắc bổ sung các chính sách sau:

Thứ nhất, chính sách hỗ trợ tư vấn, đào tạo và xây dựng năng lực nhằm đáp ứng yêu cầu về bảo vệ môi trường, truy xuất nguồn lực và các yêu cầu phi thuế quan khác của thị trường xuất khẩu. Các chính sách này không chỉ nên dừng lại ở việc cung cấp thông tin mà còn đào tạo năng lực thực tế cho doanh nghiệp để có thể đáp ứng yêu cầu mới. Cụ thể: (1) Đào tạo, cung cấp thông tin về các chính sách xuất khẩu mới, yêu cầu kỹ thuật, pháp lý của thị trường xuất khẩu; (2) Tư vấn nâng cao năng lực và hỗ trợ xây dựng lộ trình tuân thủ các yêu cầu của thị trường xuất khẩu, bao gồm cải tiến thiết kế, mô-đun hoá sản phẩm, chuẩn hoá linh kiện.

Thứ hai, chính sách hỗ trợ tuân thủ quy định của thị trường xuất khẩu. Vấn đề khó khăn hơn cả tiếp cận thông tin là thiếu công cụ để chuyển thông tin thành hành động cụ thể. Dù tiếp cận quy định, một SME cũng khó lòng hiểu được các yêu cầu chi tiết, các dữ liệu và tài liệu cần chuẩn bị cũng như lập kế hoạch, dự trù chi phí tuân thủ hay liên hệ ai để được hỗ trợ. Khi đó, để việc hỗ trợ hiệu quả hơn, cần thiết xây dựng Cổng tra cứu tích hơp có thể trả lời/hướng dẫn trả lời cho doanh nghiệp. Hệ thống này có thể có các chức năng sau: (1) Tra cứu yêu cầu kỹ thuật và pháp lý của các thị trường nhập khẩu theo mã phân loại hàng hóa (HS code) hoặc theo tên thị trường; (2) Bộ công cụ tự đánh giá mức độ tuân thủ (checklist tự đánh giá) theo ngành hàng và thị trường xuất khẩu, được chuẩn hóa và cập nhật định kỳ có sự tham gia của các hiệp hội ngành hàng; (3) Phân tích khoảng cách giữa thực trạng của doanh nghiệp và yêu cầu thị trường xuất khẩu, kèm hướng dẫn các bước thực hiện cụ thể; (4) Kết nối tự động đến mạng lưới tư vấn viên và tổ chức kiểm định, chứng nhận có thẩm quyền quy định tại Điều 14 Dự thảo.

Thứ ba, chính sách hỗ trợ kết nối các nhà cung ứng. Các yêu cầu mới của thị trường xuất khẩu có thể yêu cầu doanh nghiệp phải thay đổi loại nguyên, vật liệu phù hợp với thiết kế sản phẩm mới hoặc theo yêu cầu bảo vệ môi trường. Để hỗ trợ doanh nghiệp SME chuyển đổi sản phẩm thành công, cần có chính sách hỗ trợ kết nối SME với các nhà cung cấp nguyên vật liệu, linh kiện theo yêu cầu mới của thị trường xuất khẩu.

Thứ tư, về phương thức hỗ trợ, cho phép các nội dung hỗ trợ tuân thủ yêu cầu về môi trường, truy xuất nguồn gốc, dữ liệu sản phẩm, an toàn sản phẩm và các yêu cầu phi thuế quan khác của thị trường xuất khẩu được áp dụng phương pháp Phiếu hỗ trợ (voucher) theo Điều 6.2.b Dự thảo.

  1. Hỗ trợ thông tin

Điều 16 Dự thảo quy định về chính sách hỗ trợ thông tin cho SME, trong đó cho phép liên thông, kết nối dữ liệu với Hệ thống thông tin doanh nghiệp. Quy định này sẽ giúp SME dễ dàng tiếp cận, từ đó giảm chi phí tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, các thông tin đang liệt kê tại Dự thảo chủ yếu là các thông tin trong nước mà chưa có thông tin nước ngoài như chính sách của thị trường xuất khẩu. Do vậy, đề nghị cơ quan soạn thảo bổ sung thông tin về thị trường xuất khẩu (bao gồm các quy định pháp lý, biện pháp thuế quan, phi thuế quan) vào danh mục các thông tin cần công khai tại khoản 1 và trách nhiệm của các Bộ trong việc kết nối, liên quan các dữ liệu này tại khoản 4 Điều 16 Dự thảo. Đồng thời, để doanh nghiệp có thể thuận tiện theo dõi hơn, đề nghị bổ sung chức năng cảnh báo sớm về các thay đổi trong quy định pháp lý, biện pháp thuế quan và phí thuế quan tại các thị trường xuất khẩu trọng điểm trên Hệ thống thông tin doanh nghiệp.

  1. Cơ chế khấu hao nhanh tài sản cố định

Điều 21.3 Dự thảo cho phép SME kinh doanh bền vững được áp dụng phương pháp khấu hao nhanh với tài sản cố định. Về bản chất, khấu hao nhanh cho phép doanh nghiệp tính mức khấu hao của tài sản cao hơn trong những năm đầu, giúp giảm số thuế phải nộp trong giai đoạn đó, từ đó tăng dòng tiền cho doanh nghiệp trong những năm đầu. Quy định này có ý nghĩa hỗ trợ dòng tiền cho doanh nghiệp trong giai đoạn đầu thành lập, tối ưu hóa tài chính và hỗ trợ tăng khả năng “sống sót” cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng quy định này chỉ có ý nghĩa khi doanh nghiệp đang không nhận ưu đãi nào về thuế. Đối với doanh nghiệp mới thành lập, SME được Nhà nước miễn thuế trong 3 năm đầu thành lập theo Điều 9 Dự thảo. Khi đó, việc áp dụng phương pháp khấu hao nhanh không những không giúp SME có lợi về dòng tiền mà còn có thể “gây thiệt hại” cho doanh nghiệp khi phải đóng số thuế thu nhập doanh nghiệp cao hơn do mức khấu hao giảm vào những năm sau. Do vậy, đề nghị cơ quan soạn thảo cân nhắc lại lợi ích của chính sách này trong tương quan với các chính sách hỗ trợ khác, có thể cân nhắc cho phép doanh nghiệp tự lựa chọn áp dụng hoặc không áp dụng.

Góp ý tương tự với Điều 22.6 Dự thảo.

  1. Hỗ trợ cho SME kinh doanh bền vững

Điều 21.5 Dự thảo quy định về các chính sách đặc thù dành cho SME kinh doanh bền vững liên quan đến giảm phát thải nhà kính. Để đảm bảo tính toàn diện của các hạng mục hỗ trợ, đề nghị cơ quan soạn thảo cân nhắc bổ sung các các chi phí được ngân sách hỗ trợ: (1) Chi phi tư vấn, đánh giá, xây dựng năng lực thu thập dữ liệu dấu chân carbon; (2) Chi phí thuê kiểm toán phát thải hoặc xác thực dữ liệu phát thải, thẩm định kết quả thực hiện giảm nhẹ phát thải khí nhà kính.

  1. Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa

Điều 4 Dự thảo xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa dựa trên hai yếu tố, gồm số lao động bình quân năm và tổng nguồn vốn/tổng doanh thu. Với yếu tố thứ hai, có thể thấy ngưỡng tiêu chí về mặt tài chính trong Dự thảo đã nâng lên so với Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa 2017. Sự điều chỉnh này là hợp lý nhằm phản ánh đúng thực tiễn kinh tế, đặc biệt là yếu tố trượt giá và quy mô thị trường qua thời gian. Tương tự như vậy, ngưỡng tiêu chí này cũng có thể trở nên lỗi thời trong tương lai. Để đảm bảo tính thực tiễn của quy định qua thời gian, đề nghị cơ quan soạn thảo bổ sung quy định giao thẩm quyền điều chỉnh ngưỡng tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

  1. Doanh nghiệp nhỏ và vừa đặc thù

Điều 3 Dự thảo đưa ra định nghĩa về một số doanh nghiệp nhỏ và vừa đặc thù, gồm: (1) SME do phụ nữ làm chủ; (2) SME do người khuyết tật làm chủ; (3) SME sử dụng nhiều lao động nữ; (4) SME sử dụng nhiều lao động là người khuyết tật. Các chính sách hỗ trợ nhóm SME đặc thù này gần như giống nhau.

Mặc dù các nhóm này hưởng chính sách hỗ trợ tương đồng, việc tách biệt cứng nhắc các định nghĩa có thể vô tình tạo ra “vùng xám” pháp lý, khiến nhiều doanh nghiệp yếu thế bị loại khỏi đối tượng thụ hưởng. Ví dụ: Một doanh nghiệp sử dụng cả lao động nữ và lao động là người khuyết tật, nếu xét riêng từng nhóm thì tỷ lệ lao động đều không đạt ngưỡng quy định, nhưng tổng tỷ lệ gộp của cả hai nhóm lại đạt tiêu chuẩn ưu đãi. Việc không công nhận doanh nghiệp này trong diện hỗ trợ là chưa hợp lý, làm giảm đi giá trị nhân văn và mục tiêu bao trùm của chính sách.

Do vậy, đề nghị cơ quan soạn thảo cân nhắc thiết kế lại định nghĩa theo hướng cho phép cộng dồn giữa các nhóm này, miễn đạt tỷ lệ theo quy định.

Trên đây là một số ý kiến ban đầu của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam về Dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Rất mong cơ quan soạn thảo cân nhắc để chỉnh sửa, hoàn thiện Dự thảo này.

Trân trọng cảm ơn sự hợp tác của Quý Cơ quan./.

[1] Góp ý dựa trên phiên bản thẩm định tại Bộ Tư Pháp