Góp ý Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định 14/2018/NĐ-CP quy định về hoạt động thương mại biên giới
Góp ý dự thảo Luật Định danh và xác thực điện tử
Kính gửi: Bộ Công an
Trả lời Công văn số 3525/BCA-QLHC của Bộ Công an về việc đề nghị góp ý Dự thảo Luật Định danh và xác thực điện tử (sau đây gọi tắt là Dự thảo), trên cơ sở tập hợp ý kiến của doanh nghiệp và các hiệp hội doanh nghiệp, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) có một số ý kiến như sau:
VCCI đánh giá cao nỗ lực của Bộ Công an trong việc xây dựng Dự thảo và ghi nhận đây là bước tiến quan trọng nhằm luật hóa nền tảng nhận diện số quốc gia. Cộng đồng doanh nghiệp kỳ vọng Luật sẽ mang lại những lợi ích thiết thực: giảm chi phí và thời gian định danh khách hàng, giảm rủi ro gian lận và giả mạo danh tính trong giao dịch trực tuyến, tạo hạ tầng tin cậy cho thương mại điện tử, tài chính số, và đặc biệt là tạo tiền đề để hàng hóa Việt Nam đáp ứng các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, hộ chiếu sản phẩm số của các thị trường xuất khẩu lớn.
Đồng thời, đây là đạo luật có phạm vi tác động rất rộng, chạm tới hầu hết hoạt động sản xuất, kinh doanh và tới từng đơn vị sản phẩm, từng giao dịch của doanh nghiệp. Vì vậy, để chính sách đi vào cuộc sống thuận lợi và phát huy tối đa hiệu quả, VCCI kính đề nghị Ban soạn thảo cân nhắc về sáu nguyên tắc quan trọng:
Thứ nhất, nguyên tắc tương xứng với rủi ro. Mức độ, phạm vi và tần suất định danh, xác thực nên tương xứng với giá trị và mức độ rủi ro của từng loại đối tượng, từng loại giao dịch, tránh áp dụng đồng loạt một chuẩn mực cho mọi trường hợp.
Thứ hai, nguyên tắc kế thừa, không định danh lại. Những đối tượng đã được cấp mã, số đăng ký theo pháp luật chuyên ngành hoặc theo chuẩn quốc tế đang được thừa nhận rộng rãi cần được công nhận, chuyển đổi hoặc ánh xạ, thay vì phải trải qua một quy trình định danh mới song song.
Thứ ba, nguyên tắc trung lập công nghệ và tương thích quốc tế. Luật nên quy định yêu cầu đầu ra và mức bảo đảm, để thị trường lựa chọn giải pháp kỹ thuật; đồng thời bảo đảm khả năng liên thông với các hệ thống định danh và chuẩn dữ liệu quốc tế mà doanh nghiệp Việt Nam đang tham gia.
Thứ tư, nguyên tắc cạnh tranh bình đẳng. Cần tách bạch rõ vai trò của Nhà nước với tư cách cơ quan quản lý và chủ quản hạ tầng công, với vai trò của các chủ thể cung cấp dịch vụ trên thị trường.
Thứ năm, nguyên tắc bảo vệ bí mật kinh doanh. Dữ liệu về giao dịch, dòng hàng, đối tác, tần suất và quy mô hoạt động là tài sản cạnh tranh cốt lõi của doanh nghiệp. Cơ chế đồng bộ, liên kết và truy vết cần được thiết kế theo hướng tối thiểu hóa dữ liệu và có giới hạn mục đích rõ ràng.
Thứ sáu, nguyên tắc chi phí tuân thủ khả thi. Đề nghị bổ sung vào hồ sơ dự án Luật phần đánh giá định lượng chi phí tuân thủ đối với doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, đối với các nghĩa vụ gắn nhãn, đồng bộ dữ liệu, lưu trữ nhật ký và kết nối hệ thống.
Từ các nguyên tắc trên, VCCI có một số góp ý cụ thể như sau:
- Đối tượng định danh điện tử và nguyên tắc thực hiện (Điều 4, Điều 6, Điều 9)
So với phiên bản Dự thảo tại thời điểm lấy ý kiến chính sách, Dự thảo hiện tại đã bỏ nguyên tắc “Tham gia định danh điện tử là tự nguyện, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành quy định bắt buộc”. Điều này có thể dẫn tới cách hiểu rằng toàn bộ các đối tượng liệt kê tại Điều 7, bao gồm sản phẩm, hàng hóa, thiết bị, tài sản, vật chất khác, sự kiện, giao dịch, hành vi, đều bắt buộc phải định danh điện tử.
Cách tiếp cận này cần được cân nhắc thêm ở hai khía cạnh:
– Về tính khả thi kỹ thuật và chi phí. Theo khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 3, danh tính điện tử cho phép xác định duy nhất đối tượng, mã định danh không trùng lặp, không cấp lại. Áp dụng logic này cho hàng hóa sản xuất hàng loạt sẽ đồng nghĩa với việc phải cá thể hóa (serialization) tới từng đơn vị sản phẩm. Với một doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng nhanh, con số này lên tới hàng trăm triệu mã mỗi năm, chưa kể yêu cầu lưu trữ vĩnh viễn hoặc tối thiểu 05 năm (khoản 4 Điều 13). Tương tự, việc cấp mã định danh không lặp lại cho từng “giao dịch, hành vi, tương tác” trong toàn nền kinh tế đặt ra thách thức rất lớn về hạ tầng lưu trữ và chi phí vận hành, trong khi phần lớn các đối tượng này có vòng đời rất ngắn.
– Về hiệu quả quản lý. Mục tiêu quản lý trong nhiều trường hợp chỉ đòi hỏi định danh ở cấp chủng loại, lô, mẻ, model hoặc số khung, số máy, chứ không cần tới từng đơn vị sản phẩm.
Trên cơ sở đó, VCCI đề nghị:
(i) Khôi phục nguyên tắc định danh, xác thực điện tử được thực hiện trên cơ sở tự nguyện, trừ trường hợp Luật này hoặc pháp luật chuyên ngành quy định bắt buộc; đồng thời bổ sung vào Điều 4 nguyên tắc tương xứng với mức độ rủi ro;
(ii) Quy định rõ tại Luật danh mục hoặc tiêu chí xác định nhóm đối tượng bắt buộc định danh, theo hướng chỉ áp dụng với đối tượng có tính ổn định, có giá trị lớn, có rủi ro cao đối với an ninh, an toàn, sức khỏe cộng đồng hoặc thuộc diện quản lý đặc thù; không áp dụng bắt buộc với sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ có vòng đời ngắn, giá trị thấp;
(iii) Phân tầng cấp độ định danh đối với hàng hóa: cấp chủng loại, cấp lô hoặc mẻ, cấp đơn vị sản phẩm, và giao Chính phủ quy định nhóm hàng hóa nào áp dụng cấp độ nào.
- Nguyên tắc áp dụng Luật và mối quan hệ với pháp luật chuyên ngành
Hiện nay, pháp luật chuyên ngành đã thiết lập nhiều cơ chế mang bản chất định danh: mã số doanh nghiệp, mã số thuế, số giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu, số đăng ký xe, số thửa đất, số lưu hành trang thiết bị y tế, số đăng ký thuốc, mã truy xuất nguồn gốc sản phẩm hàng hóa. Bên cạnh đó, doanh nghiệp xuất khẩu đang sử dụng phổ biến các chuẩn định danh toàn cầu như GS1 (GTIN, GLN, SSCC), mã LEI, mã VIN.
Nếu các đối tượng đã được định danh theo những cơ chế nêu trên vẫn phải thực hiện lại thủ tục định danh theo Luật này, doanh nghiệp sẽ phải chịu hai lớp thủ tục cho cùng một đối tượng, làm phát sinh chi phí và rủi ro tuân thủ mà không tăng thêm giá trị quản lý. Khoản 5 Điều 10 đã có hướng xử lý vấn đề này, tuy nhiên quy định mới chỉ miễn trừ khâu đăng ký và chuẩn hóa thông tin, chưa giải quyết câu hỏi cốt lõi là các mã số hiện hữu có được thừa nhận là mã định danh theo Luật này hay không.
Đề nghị Ban soạn thảo:
(i) Bổ sung nguyên tắc: trường hợp pháp luật chuyên ngành đã quy định về định danh đối với một đối tượng thì áp dụng theo pháp luật chuyên ngành đó; Luật này áp dụng đối với những đối tượng, những nội dung mà pháp luật chuyên ngành chưa quy định;
(ii) Bổ sung một điều khoản về thừa nhận và ánh xạ mã định danh hiện hữu, theo đó các mã số, số đăng ký đã được cơ quan nhà nước cấp theo pháp luật chuyên ngành và các mã theo chuẩn quốc tế được thừa nhận sẽ được công nhận là mã định danh hoặc được liên kết với mã định danh quốc gia, không phải cấp mới;
(iii) Giao Chính phủ ban hành danh mục các mã số hiện hữu được thừa nhận, để bảo đảm tính minh bạch và thống nhất trong áp dụng.
- Trình tự, thủ tục định danh điện tử (Điều 9, Điều 10)
Các quy định tại Điều 9 và Điều 10 về hình thức đăng ký, nguồn thu thập, xử lý và chuẩn hóa thông tin được thiết kế phù hợp với quy trình do cơ quan nhà nước thực hiện. Đối với hoạt động định danh do doanh nghiệp cung cấp như một dịch vụ trên thị trường, việc áp dụng nguyên vẹn quy trình này có thể làm hạn chế khả năng thiết kế sản phẩm và trải nghiệm khách hàng.
Đề nghị quy định theo hướng: Điều 9 và Điều 10 áp dụng đối với hoạt động định danh do cơ quan nhà nước thực hiện; đối với tổ chức, doanh nghiệp, Luật chỉ quy định các yêu cầu đầu ra bắt buộc (tính chính xác, toàn vẹn, khả năng truy vết, bảo vệ dữ liệu cá nhân, mức bảo đảm danh tính), còn quy trình cụ thể do tổ chức tự xây dựng và công bố.
Ngoài ra, khoản 4 Điều 11 giao “cơ quan có thẩm quyền” ban hành hướng dẫn chi tiết về thu thập, xử lý, chuẩn hóa thông tin đối với các đối tượng thuộc phạm vi quản lý. Quy định này chưa xác định rõ chủ thể và có thể dẫn tới tình trạng mỗi bộ, ngành ban hành một bộ hướng dẫn riêng, làm phát sinh sự thiếu thống nhất mà chính Luật đang hướng tới khắc phục. Đề nghị làm rõ chủ thể ban hành và bổ sung cơ chế bảo đảm tính thống nhất của các hướng dẫn này.
- Cấp mã định danh và cấu trúc mã (Điều 11)
– Về tính thống nhất của quy định. Điểm b khoản 1 Điều 11 quy định “một đối tượng có thể được cấp nhiều mã định danh tự chủ”, trong khi khoản 3 Điều 3 xác định mã định danh là dãy ký tự “không trùng lặp, không cấp lại” và Tờ trình khẳng định nguyên tắc “mỗi đối tượng chỉ được cấp một mã định danh, bảo đảm nguyên tắc duy nhất, không trùng lặp”. Đề nghị rà soát, chỉnh lý để bảo đảm tính nhất quán; nếu chấp nhận việc một đối tượng có thể mang nhiều mã tự chủ do nhiều tổ chức khác nhau cấp, cần điều chỉnh lại định nghĩa tại Điều 3 và làm rõ cơ chế liên kết, tránh cách hiểu mâu thuẫn khi áp dụng.
– Về nghĩa vụ gắn nhãn. Điểm b khoản 1 yêu cầu mã định danh tự chủ cấp lần đầu phải được gắn nhãn trên đối tượng. Với hàng hóa, đây là nghĩa vụ có chi phí lớn, liên quan tới thay đổi bao bì, dây chuyền in ấn và tồn kho. Đề nghị bổ sung nguyên tắc chấp nhận các hình thức thể hiện linh hoạt (nhãn vật lý, mã QR, thẻ RFID, tệp dữ liệu số kèm theo) và có lộ trình chuyển tiếp phù hợp với chu kỳ thay đổi bao bì của doanh nghiệp.
– Về cấu trúc mã. Điểm a khoản 3 giao các bộ, cơ quan ngang bộ quy định chi tiết cấu trúc mã định danh quốc gia theo lĩnh vực. Để tránh phân mảnh, đề nghị bổ sung nguyên tắc cấu trúc mã phải tương thích với các chuẩn quốc tế đang được áp dụng phổ biến trong lĩnh vực tương ứng, nhằm bảo đảm hàng hóa và dữ liệu của doanh nghiệp Việt Nam có khả năng liên thông với chuỗi cung ứng toàn cầu mà không phải duy trì hai hệ thống mã song song.
- Liên kết danh tính điện tử và bảo vệ bí mật kinh doanh (Điều 19, khoản 4 Điều 22)
Khoản 2 và khoản 3 Điều 19 quy định bắt buộc liên kết danh tính điện tử của hàng hóa, tài sản, giao dịch với danh tính của tất cả cá nhân, tổ chức có quyền sở hữu hoặc quản lý và tất cả các bên tham gia, gắn với thời gian, địa điểm, không gian xảy ra. Khoản 4 Điều 22 tiếp tục yêu cầu việc xác thực phải bao gồm xác thực đồng thời thông tin liên kết với tất cả các bên tham gia liên quan.
Từ thực tiễn kinh doanh, quy định này có thể tạo ra một số vấn đề đáng lưu ý:
(i) Trong chuỗi cung ứng nhiều tầng, một doanh nghiệp thường không nắm được và cũng không có quyền yêu cầu thông tin định danh của toàn bộ các bên ở các mắt xích phía trên hoặc phía dưới. Nghĩa vụ liên kết “tất cả các bên” do đó khó khả thi trong nhiều tình huống.
(ii) Tập hợp thông tin về đối tác, dòng hàng, thời điểm và địa điểm giao dịch chính là bản đồ mạng lưới kinh doanh của doanh nghiệp. Việc thông tin này được liên kết và có thể truy vết tập trung đặt ra yêu cầu rất cao về bảo mật và giới hạn mục đích khai thác.
Đề nghị:
(i) Giới hạn nghĩa vụ liên kết bắt buộc ở phạm vi các bên trực tiếp trong quan hệ giao dịch mà chủ thể có nghĩa vụ, không mở rộng tới toàn bộ chuỗi;
(ii) Bổ sung một điều khoản riêng về bảo vệ bí mật kinh doanh và thông tin thương mại nhạy cảm trong hoạt động định danh, xác thực và truy vết, xác định rõ chủ thể được tiếp cận, mục đích được tiếp cận, thời hạn lưu trữ và trách nhiệm khi để xảy ra lộ lọt;
(iii) Bổ sung tại Điều 30 điều kiện, thẩm quyền và trình tự yêu cầu truy vết danh tính điện tử, bảo đảm truy vết được thực hiện theo yêu cầu của chủ thể có quyền hoặc của cơ quan có thẩm quyền theo quy định pháp luật, không trở thành kênh tiếp cận thông tin kinh doanh ngoài mục đích.
- Đồng bộ dữ liệu và nhật ký xác thực (khoản 2 Điều 27, khoản 2 Điều 33, khoản 3 Điều 12)
– Về thời hạn đồng bộ. Điểm d khoản 2 Điều 33 và điểm b khoản 2 Điều 27 ấn định thời hạn đồng bộ trong vòng 24 giờ kể từ thời điểm xác thực. Thời hạn đồng bộ là nội dung mang tính kỹ thuật, phụ thuộc vào hạ tầng, quy mô hệ thống và tần suất giao dịch. Đề nghị không ấn định cứng trong Luật mà giao Chính phủ quy định trên cơ sở tính chất và mức độ rủi ro của từng nhóm đối tượng; đồng thời bổ sung quy định xử lý trường hợp không thể đồng bộ đúng hạn do sự cố hệ thống hoặc nguyên nhân khách quan, theo hướng được đồng bộ trong thời hạn do Chính phủ quy định kể từ thời điểm khắc phục xong sự cố.
– Về phạm vi dữ liệu đồng bộ. Dự thảo đã có quy định tích cực khi khẳng định việc đồng bộ nhật ký không bao gồm dữ liệu nội dung giao dịch. Đề nghị bổ sung nguyên tắc tối thiểu hóa dữ liệu ngay tại Điều 34, theo hướng liệt kê giới hạn các trường dữ liệu được đồng bộ và khẳng định không đồng bộ thông tin về giá trị giao dịch, đối tác thương mại và các thông tin cấu thành bí mật kinh doanh.
– Về khối lượng đồng bộ. Khoản 3 Điều 12 yêu cầu đồng bộ danh tính điện tử tự chủ ngay khi tạo lập và mỗi khi có thay đổi. Đối với doanh nghiệp quản lý hàng triệu mã hàng hóa, đây là khối lượng dữ liệu rất lớn. Đề nghị cho phép đồng bộ theo lô, theo định kỳ hoặc theo cơ chế truy vấn khi có yêu cầu đối với các nhóm đối tượng rủi ro thấp.
- Điều kiện và cơ chế quản lý đối với tổ chức cung cấp dịch vụ (Điều 37)
Khoản 2 Điều 37 quy định tổ chức cung cấp dịch vụ định danh điện tử phải thông báo cho Bộ Công an trước khi cung cấp dịch vụ. Tuy nhiên, Dự thảo chưa làm rõ đây là ngành nghề kinh doanh có điều kiện được quản lý bằng giấy phép, hay áp dụng cơ chế thông báo kết hợp hậu kiểm. Sự chưa rõ ràng này ảnh hưởng trực tiếp tới quyết định đầu tư của doanh nghiệp.
Đề nghị:
(i) Quy định ngay tại Luật cơ chế quản lý được lựa chọn, thẩm quyền, hồ sơ, thời hạn xử lý và các trường hợp từ chối, thu hồi;
(ii) Lượng hóa hoặc bổ sung tiêu chí xác định đối với các điều kiện còn mang tính định tính như “năng lực tài chính bảo đảm duy trì hoạt động liên tục”, “nhân sự chuyên trách đáp ứng yêu cầu về chuyên môn kỹ thuật”, tránh khoảng trống trong áp dụng;
(iii) Bổ sung cơ chế liên thông với pháp luật về giao dịch điện tử, theo hướng tổ chức đã được cấp phép cung cấp dịch vụ tin cậy theo Luật Giao dịch điện tử được kế thừa kết quả thẩm định đối với các điều kiện tương đương, không phải chứng minh lại từ đầu;
(iv) Bổ sung nguyên tắc kết nối kỹ thuật với Hệ thống định danh và xác thực điện tử được thực hiện theo giao diện lập trình ứng dụng mở, tiêu chuẩn công bố công khai, cam kết chất lượng dịch vụ và thời hạn xử lý yêu cầu kết nối.
- Trách nhiệm pháp lý và phân bổ rủi ro (Điều 42, Điều 44)
Đây là nội dung được cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt là các tổ chức tín dụng, trung gian thanh toán và nền tảng thương mại điện tử, đặc biệt quan tâm.
Khoản 4 Điều 44 quy định tổ chức, cá nhân sử dụng kết quả định danh và xác thực từ hệ thống trí tuệ nhân tạo “chịu trách nhiệm cuối cùng về quyết định của mình”. Trên thực tế, bên sử dụng dịch vụ thường không có khả năng kiểm chứng độ chính xác kỹ thuật của hệ thống mà mình kết nối tới. Nếu bên sử dụng đã thực hiện đúng quy trình, đúng mức độ xác thực theo quy định nhưng vẫn xảy ra sai sót do lỗi của hệ thống hoặc do thủ đoạn giả mạo vượt qua được biện pháp kỹ thuật hiện hành, việc quy trách nhiệm cuối cùng cho bên sử dụng là chưa thực sự phù hợp với nguyên tắc phân bổ rủi ro theo khả năng kiểm soát.
Đề nghị bổ sung nguyên tắc miễn trừ trách nhiệm cho bên sử dụng dịch vụ ngay tình: tổ chức, cá nhân đã thực hiện xác thực điện tử đúng quy định của Luật này, ở mức độ xác thực phù hợp với tính chất giao dịch, thì không phải chịu trách nhiệm về thiệt hại phát sinh do kết quả xác thực không chính xác, trừ trường hợp có lỗi. Trách nhiệm trong trường hợp này thuộc về tổ chức thực hiện hoạt động xác thực theo cam kết dịch vụ và quy định pháp luật. Quy định này sẽ tạo động lực để doanh nghiệp mạnh dạn sử dụng kết quả xác thực điện tử thay cho các biện pháp kiểm tra thủ công.
- Giá trị sử dụng của kết quả xác thực và chứng thư điện tử xác nhận thông tin (Điều 15, Điều 28, Điều 29)
Dự thảo đã quy định danh tính điện tử có giá trị tương đương việc xuất trình giấy tờ. Đây là quy định tiến bộ, tuy nhiên thực tiễn thi hành thời gian qua cho thấy vẫn còn tình trạng yêu cầu xuất trình song song bản giấy.
Đề nghị bổ sung nghĩa vụ minh thị của cơ quan, tổ chức tiếp nhận: không được yêu cầu cung cấp, xuất trình giấy tờ, tài liệu mà thông tin tương ứng đã được thể hiện qua danh tính điện tử, chứng thư điện tử xác nhận thông tin hoặc đã kết nối, khai thác được từ cơ sở dữ liệu; đồng thời bổ sung cơ chế phản ánh và xử lý đối với hành vi không tuân thủ. Đối với danh mục lĩnh vực bắt buộc chấp nhận chứng thư điện tử xác nhận thông tin tại khoản 7 Điều 29, đề nghị quy định nguyên tắc xây dựng danh mục ngay tại Luật và có lộ trình công bố sớm để doanh nghiệp chuẩn bị.
- Phí, chi phí tuân thủ và hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (Điều 35)
Chi phí xác thực là chi phí phát sinh trên từng giao dịch, do đó tác động trực tiếp tới giá thành và tới khả năng tham gia thị trường của doanh nghiệp nhỏ. Đề nghị bổ sung tại Điều 35 các nguyên tắc: mức phí được xác định trên cơ sở chi phí hợp lý, công khai, minh bạch, ổn định trong từng thời kỳ; có chính sách miễn, giảm phí đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo trong thời gian đầu áp dụng; miễn phí đối với các giao dịch phục vụ thực hiện thủ tục hành chính và nghĩa vụ với Nhà nước.
- Các quy định liên quan tới thị trường dịch vụ và nghĩa vụ kết nối (khoản 2 Điều 32, Điều 45)
– Điểm b khoản 2 Điều 32 và khoản 1 Điều 45 cho phép cơ quan quản lý vận hành Hệ thống định danh và xác thực điện tử cung cấp miễn phí dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng cho cá nhân. Đề nghị làm rõ phạm vi áp dụng chỉ giới hạn ở việc thực hiện dịch vụ công và thủ tục hành chính, đồng thời đánh giá tác động đối với thị trường dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng hiện có, bảo đảm nguyên tắc cạnh tranh bình đẳng theo pháp luật về cạnh tranh.
– Điểm d khoản 2 Điều 32 về liên kết tài khoản thanh toán, ví điện tử, thẻ ngân hàng trên ứng dụng định danh quốc gia: đề nghị bổ sung nguyên tắc kết nối mở, không phân biệt đối xử, điều kiện và quy trình kết nối được công bố công khai cho mọi tổ chức đủ điều kiện.
– Điểm b khoản 3 Điều 45 bổ sung nghĩa vụ của chủ quản nền tảng thương mại điện tử phải kết nối để định danh, xác thực người bán, người livestream bán hàng và người tiếp thị liên kết. Đây là nghĩa vụ có tác động lớn tới vận hành nền tảng. Đề nghị quy định lộ trình thực hiện, bảo đảm sẵn sàng về giao diện kết nối, năng lực xử lý của hệ thống quốc gia trước thời điểm nghĩa vụ có hiệu lực, và cơ chế xử lý khi hệ thống gián đoạn để không làm ngừng trệ hoạt động thương mại.
- Công nhận danh tính điện tử nước ngoài (Điều 39, Điều 40)
Điều 39 đặt điều kiện công nhận trên cơ sở điều ước quốc tế hoặc thỏa thuận quốc tế. Trong bối cảnh Việt Nam chưa ký kết nhiều thỏa thuận loại này, quy định như vậy có thể làm chậm khả năng phục vụ nhà đầu tư nước ngoài, khách du lịch và các giao dịch xuyên biên giới của doanh nghiệp Việt Nam.
Đề nghị bổ sung cơ chế công nhận theo tiêu chuẩn kỹ thuật, theo đó danh tính điện tử và kết quả xác thực do tổ chức nước ngoài cung cấp được công nhận nếu đáp ứng mức độ xác thực và tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương, không nhất thiết phải có điều ước quốc tế; đồng thời cho phép tổ chức cung cấp dịch vụ trong nước tự đánh giá và chấp nhận kết quả xác thực nước ngoài trên cơ sở quản trị rủi ro, tự chịu trách nhiệm, đối với các giao dịch dân sự, thương mại thông thường.
- Điều khoản chuyển tiếp (Điều 46)
Khoản 2 Điều 46 quy định thời hạn 18 tháng để tổ chức đang cung cấp dịch vụ đáp ứng điều kiện mới. Đây là khoảng thời gian tương đối ngắn để đầu tư hạ tầng, chuẩn hóa quy trình, hoàn thành thủ tục pháp lý và thực hiện các nghĩa vụ kết nối, đồng bộ dữ liệu. Đề nghị cân nhắc kéo dài thời hạn này lên từ 24 đến 36 tháng.
Bên cạnh đó, đề nghị bổ sung các nội dung chuyển tiếp sau:
(i) Đối với hàng hóa đã được sản xuất, đóng gói hoặc đang lưu thông trước ngày Luật có hiệu lực, được tiếp tục lưu thông đến hết hạn sử dụng hoặc hết thời hạn chuyển tiếp mà không phải thực hiện lại việc gắn nhãn mã định danh;
(ii) Đối với các hệ thống định danh, truy xuất nguồn gốc do doanh nghiệp đã đầu tư và đang vận hành, được tiếp tục sử dụng và thực hiện chuyển đổi, ánh xạ dữ liệu theo lộ trình, thay vì xây dựng lại hệ thống mới.
- Một số nội dung kỹ thuật lập pháp
Về số lượng nội dung giao quy định chi tiết. Dự thảo có nhiều điều khoản giao Chính phủ quy định chi tiết, trong đó có những nội dung ảnh hưởng trực tiếp tới chi phí và nghĩa vụ của doanh nghiệp như đối tượng định danh, danh mục phương tiện xác thực, điều kiện cung cấp dịch vụ, mức phí. Đề nghị luật hóa các nguyên tắc và tiêu chí khung ngay tại Luật, đồng thời công bố dự thảo các nghị định quy định chi tiết đồng thời với quá trình thẩm tra dự án Luật, để doanh nghiệp có thể đánh giá đầy đủ tác động và chuẩn bị điều kiện tuân thủ.
Cộng đồng doanh nghiệp ủng hộ chủ trương xây dựng Luật Định danh và xác thực điện tử và mong muốn Luật sớm được ban hành để tạo nền tảng nhận diện số thống nhất, an toàn cho nền kinh tế. Các ý kiến nêu trên được đưa ra với tinh thần xây dựng, nhằm góp phần để đạo luật vừa đạt được mục tiêu quản lý, vừa bảo đảm tính khả thi và chi phí tuân thủ hợp lý cho doanh nghiệp, qua đó phát huy tối đa giá trị kiến tạo phát triển mà Luật hướng tới.
Trên đây là một số ý kiến của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đối với Dự thảo Luật Định danh và xác thực điện tử. Rất mong Quý Cơ quan cân nhắc, xem xét để chỉnh sửa, hoàn thiện Dự thảo.
Trân trọng cảm ơn sự hợp tác của Quý Cơ quan./.
Website xây dựng pháp luật của VCCI