Góp ý dự thảo Luật Bưu chính (sửa đổi)

Thứ Sáu 22:26 12-06-2026

Kính gửi:  Bộ Khoa học và Công nghệ

Trả lời Công văn số 3238/BKHCN-BC ngày 17/05/2026 của Bộ Khoa học và Công nghệ về việc đề nghị góp ý Dự thảo Luật Bưu chính (sửa đổi)[1] (sau đây gọi tắt là Dự thảo), Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), trên cơ sở ý kiến của doanh nghiệp, có ý kiến ban đầu như sau:

  1. Định nghĩa dịch vụ bưu chính

Điều 3.3 Dự thảo bổ sung các hoạt động lưu kho, xử lý đơn hàng, đóng gói và hoàn trả bưu gửi vào định nghĩa dịch vụ bưu chính, bên cạnh các hoạt động chấp nhận, chia chọn, vận chuyển và phát bưu gửi. Theo phản ánh của doanh nghiệp, quy định này cần xem xét ở những điểm sau:

Thứ nhất, định nghĩa không phù hợp với thông lệ quốc tế. Định nghĩa của WTO[2] về dịch vụ bưu chính (CPC 75111, CPC 75112, CPC 75121) tập trung vào bản chất thu nhận và chuyển phát từ địa điểm người gửi đến địa điểm người nhận. Các hoạt động lưu kho, đóng gói, xử lý đơn hàng thuộc phân ngành dịch vụ logistics hỗ trợ (CPC 741) – một lĩnh vực được điều chỉnh riêng. Việc tích hợp hai phân ngành vào cùng một định nghĩa tạo ra rủi ro chồng chéo với Luật Thương mại, dẫn đến doanh nghiệp có thể bị yêu cầu đáp ứng điều kiện kinh doanh của hai Luật khác nhau cho cùng một hoạt động.

Thứ hai, định nghĩa như vậy sẽ mở rộng đáng kể phạm vi của dịch vụ bưu chính. Hiện nay, hàng nghìn doanh nghiệp bán lẻ và thương mại điện tử đang thực hiện các hoạt động lưu kho, xử lý đơn hàng, đóng gói trước khi giao cho đơn vị vận chuyển — những hoạt động này trùng khớp với mô tả tại khoản 3 Điều 3, nhưng bản chất không phải là dịch vụ bưu chính. Quy định này sẽ tạo ra nguy cơ nhiều doanh nghiệp thuộc lĩnh vực khác sẽ chịu sự điều chỉnh của luật này, dẫn đến tăng thêm trách nhiệm pháp lý mà chưa có lý giải cụ thể về sự cần thiết của việc này.

Thứ ba, định nghĩa chưa thống nhất với Điều 5 Dự thảo. Điều 5 xác định tiêu chí dịch vụ bưu chính là mỗi bưu gửi phải được xử lý đơn lẻ, có định danh và cung cấp trên cơ sở mạng bưu chính. Các hoạt động lưu kho, đóng gói thông thường không nhất thiết đáp ứng hai tiêu chí này, tạo ra mâu thuẫn nội tại trong Dự thảo.

Trước đây, tại Dự thảo Hồ sơ chính sách Luật Bưu chính, cơ quan soạn thảo đã giải thích rằng nhiều doanh nghiệp bưu chính hiện đã mở rộng hoạt động ra các lĩnh vực này. Tuy nhiên, VCCI cũng đã lưu ý rằng việc doanh nghiệp bưu chính mở rộng hoạt động là điều bình thường, thể hiện quyền tự do kinh doanh mà Hiến pháp đã quy định. Nhưng điều này không đồng nghĩa với việc Luật Bưu chính cũng phải mở rộng định nghĩa tương ứng, nếu các hoạt động này không xâm phạm đến lợi ích công cộng và chưa được quản lý hiệu quả bởi các pháp luật khác.

Đồng thời, cũng cần lưu ý rằng, Luật Bưu chính 2010 đã định nghĩa rõ ràng: “dịch vụ chấp nhận, vận chuyển và phát bưu gửi bằng các phương thức từ địa điểm của người gửi đến địa điểm của người nhận qua mạng bưu chính”. Định nghĩa này tập trung đúng vào bản chất cốt lõi của ngành và không tạo ra sự nhập nhằng với các ngành dịch vụ liền kề.

Trên cơ sở đó, đề nghị cơ quan soạn thảo: (1) Giữ định nghĩa dịch vụ bưu chính theo hướng kế thừa Luật Bưu chính 2010, tập trung vào hoạt động chấp nhận, vận chuyển và phát bưu gửi qua mạng bưu chính; (2) Nếu cần đề cập các hoạt động hỗ trợ, đưa vào khoản riêng với tư cách là dịch vụ giá trị gia tăng bổ trợ, không đưa vào định nghĩa cốt lõi; (3) Bổ sung quy định làm rõ rằng các hoạt động lưu kho, đóng gói, xử lý đơn hàng do doanh nghiệp tự thực hiện cho chính hàng hóa của mình không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật.

  1. Đăng ký lại dịch vụ bưu chính

Điều 15 Dự thảo quy định doanh nghiệp bưu chính có trách nhiệm đăng ký lại với cơ quan nhà nước trong trường hợp có thay đổi nội dung đăng ký. Tuy nhiên, nội dung đăng ký theo Điều 13 tương đối nhiều nội dung, trong đó có thể bao gồm cả các thay đổi không trọng yếu, không thay đổi năng lực của doanh nghiệp. Việc đăng ký lại với các trường hợp như vậy là không cần thiết và sẽ tăng khối lượng thủ tục hành chính cho doanh nghiệp. Do vậy, đề nghị cơ quan soạn thảo sửa đổi theo hướng doanh nghiệp đăng ký lại trong trường hợp thay đổi trọng yếu về nội dung đăng ký, và giao Chính phủ quy định cụ thể các trường hợp này.

  1. Thu thập và sử dụng dữ liệu bưu chính

Điều 44 Dự thảo quy định về thu thập và sử dụng dữ liệu bưu chính. Tuy nhiên, Dự thảo cần cân nhắc một số điểm như sau:

Thứ nhất, quy định tại Điều 44 tạo ra lớp điều chỉnh song song với Luật Dữ liệu và Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân mà không có cơ chế xác định luật nào ưu tiên áp dụng. Điều 44.3 liệt kê ba điều kiện thu thập và sử dụng dữ liệu (không vượt quá phạm vi cần thiết; không sử dụng trái mục đích; tuân thủ pháp luật về dữ liệu) nhưng Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân đã có khung điều chỉnh đầy đủ và chi tiết hơn cho đúng những vấn đề này. Việc tồn tại hai lớp quy định không hoàn toàn tương đồng về ngôn ngữ pháp lý tạo ra nguy cơ giải thích mâu thuẫn: cơ quan quản lý bưu chính và cơ quan bảo vệ dữ liệu có thể áp dụng tiêu chuẩn khác nhau cho cùng một hành vi xử lý dữ liệu của doanh nghiệp bưu chính.

Thứ hai, Điều 44.1 giới hạn thu thập dữ liệu ở mức “phục vụ trực tiếp hoặc cần thiết cho việc cung cấp dịch vụ bưu chính” nhưng không quy định thời hạn lưu trữ tối đa. Điều 46 quy định lưu trữ dữ liệu “trong thời hạn cần thiết” nhưng không có thời hạn cụ thể mà giao Chính phủ quy định chi tiết. Trong thực tế vận hành, với khối lượng hàng tỷ bưu gửi mỗi năm, chi phí lưu trữ dữ liệu tăng tỷ lệ thuận với thời hạn bắt buộc.

Thứ ba, Điều 44.2.c cho phép sử dụng dữ liệu để “cải tiến, nâng cao chất lượng dịch vụ bưu chính trên cơ sở dữ liệu đã được thu thập hợp pháp” mà không yêu cầu sự đồng ý của chủ thể dữ liệu. Quy định này có thể hiểu là cho phép phân tích, khai thác toàn bộ lịch sử giao dịch của người dùng cho mục đích thương mại nội bộ của doanh nghiệp, mà không cần thông báo hay đồng ý — rộng hơn đáng kể so với nguyên tắc giới hạn mục đích theo Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân. Sự không tương thích này tạo ra rủi ro pháp lý cho chính doanh nghiệp khi bị xem xét vi phạm đồng thời ở hai cơ chế điều chỉnh.

Trên cơ sở đó, đề nghị cơ quan soạn thảo: (1) Cân nhắc áp dụng theo Luật Dữ liệu và Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân, trừ trường hợp quy định đặc thù riêng cho ngành bưu chính, cần có giải trình rõ ràng; (2) Bổ sung về trần thời hạn lưu trữ tối đa trực tiếp trong Luật.

  1. Nghĩa vụ kết nối hệ thống thông tin với cơ quan nhà nước

Điều 45.1 quy định doanh nghiệp bưu chính có trách nhiệm kết nối hệ thống thông tin với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Dù Dự thảo đã bổ sung giới hạn “trong phạm vi cần thiết” và “phù hợp với điều kiện kỹ thuật và quy mô hoạt động”, quy định này vẫn cần xem xét ở những điểm như sau:

Thứ nhất, quy định này tạo gánh nặng chi phí đáng kể cho doanh nghiệp. Kết nối hệ thống thông tin theo nghĩa kỹ thuật đòi hỏi doanh nghiệp phải đầu tư xây dựng hoặc nâng cấp API theo chuẩn do cơ quan nhà nước đặt ra, tích hợp và kiểm thử hệ thống, duy trì kết nối liên tục. Chi phí này tương đối lớn, đặc biệt với các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Thứ hai, yêu cầu mới tiềm ẩn rủi ro an ninh thông tin. Mở kết nối trực tiếp và liên tục vào hệ thống thông tin vận hành của doanh nghiệp cho một đầu kết nối bên ngoài là hành động có mức độ rủi ro an ninh mạng cao. Trong khi đó, hiện nay, các doanh nghiệp bưu chính đã có cơ chế cung cấp thông tin theo yêu cầu và hợp tác hiệu quả với cơ quan có thẩm quyền các cấp (bao gồm các cơ quan của Bộ Công An) trong phòng chống tội phạm, đảm bảo an toàn, an ninh bưu chính. Việc mở rộng

Trên cơ sở đó, đề nghị cơ quan soạn thảo sửa đổi theo hướng chỉ yêu cầu doanh nghiệp cung cấp thông tin, dữ liệu theo yêu cầu hợp pháp bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Trên đây là một số ý kiến ban đầu của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam về Dự thảo Luật Bưu chính (sửa đổi). Rất mong cơ quan soạn thảo cân nhắc để chỉnh sửa, hoàn thiện Dự thảo này.

Trân trọng cảm ơn sự hợp tác của Quý Cơ quan./.

[1] Góp ý dựa trên Dự thảo phiên bản thẩm định

[2] Hệ thống phân loại sản phẩm trung tâm tạm thời năm 1991