30/8/2017 17:4
VCCI góp ý Dự thảo Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán độc lập

Kính gửi: Vụ Chế độ Kế toán và Kiểm toán

       Bộ Tài chính

Trả lời Công văn số 10181/BTC-CĐKT của Bộ Tài chính về việc đề nghị góp ý Dự thảo Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán độc lập (sau đây gọi tắt là Dự thảo), Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, trên cơ sở ý kiến của doanh nghiệp, hiệp hội, có một số ý kiến như sau:

1.      Một số hành vi cùng tính chất nhưng lại khác nhau về khung xử phạt

a.      Xử phạt hành vi vi phạm trong việc tổ chức bồi dưỡng và cấp chứng chỉ bồi dưỡng kế toán trưởng (Điều 17)

-         Về hành vi không đăng ký với Bộ Tài chính

Điểm a khoản 1 Điều 17 Dự thảo quy định phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đối với hành vi “tổ chức khóa học bồi dưỡng kế toán trưởng khi chưa đăng ký với Bộ Tài chính hoặc đã đăng ký nhưng chưa được Bộ Tài chính chấp thuận”.

Khoản 4 Điều 19 Dự thảo quy định phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi “thực hiện cập nhật kiến thức cho kế toán viên hành nghề và người đăng ký hành nghề dịch vụ kế toán khi chưa được Bộ Tài chính chấp thuận”.

Hai hành vi trên có tính chất tương tự nhau, vì cùng vi phạm về thủ tục đăng ký với cơ quan nhà nước đối với hoạt động đào tạo, do đó cần phải được xác định cùng khung xử phạt. Đề nghị Ban soạn thảo điều chỉnh hai hành vi này có cùng khung xử phạt tương đương nhau.

b.      Hành vi vi phạm quy định về kinh doanh dịch vụ kế toán của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán (Điều 27)

Điều 27 quy định xử phạt hành vi “tiếp tục kinh doanh các dịch vụ kế toán khi đã chấm dứt kinh doanh dịch vụ kế toán, bị đình chỉ kinh doanh dịch vụ kế toán hoặc đã bị thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán” (khoản 2) và hành vi “cung cấp dịch vụ kế toán hoặc hành nghề dịch vụ kế toán khi chưa đủ điều kiện theo quy định” (khoản 3) vào hai khung xử phạt khác nhau, trong khi xét bản chất, hai hành vi này có cùng tính chất là cung cấp dịch vụ kế toán khi chưa đáp ứng đủ điều kiện theo quy định.

Do vậy, để đảm bảo tính hợp lý, đề nghị Ban soạn thảo điều chỉnh hai hành vi này về một khung xử phạt.

Góp ý tương tự đối với các hành vi quy định tại khoản 3, 4 Điều 42 Dự thảo.

2.      Hành vi vi phạm của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán tại Việt Nam khi liên danh với doanh nghiệp dịch vụ kế toán nước ngoài để cung cấp dịch vụ kế toán tại Việt Nam (Điều 31)

Khoản 1 Điều 31 Dự thảo quy định xử phạt các hành vi “không cung cấp hoặc cung cấp không kịp thời cho cơ quan chức năng hồ sơ hợp đồng cung cấp dịch vụ kế toán …” (điểm b); các hành vi “không giải trình hoặc giải trình không kịp thời với vác cơ quan chức năng về báo cáo kế toán, hồ sơ dịch vụ kế toán …” (điểm c) vào chung một khung xử phạt là chưa hợp lý. Bởi vì, “không cung cấp” và “cung cấp không kịp thời”; “không giải trình” và “giải trình không kịp thời” có tính chất vi phạm khác nhau và hành vi “không cung cấp”, “không giải trình” có tính chất nguy hiểm hơn là các hành vi còn lại.

Đề nghị Ban soạn thảo phân tách thành hai hành vi vi phạm và xác định mức xử phạt tương ứng, trong đó mức phạt tiền đối với hành vi “không cung cấp”, “không giải trình” cao hơn hành vi “cung cấp không kịp thời”, “giải trình không kịp thời”.

Trong Dự thảo có nhiều hành vi có tính chất tương tự trên được xếp cùng một khung xử phạt, đề nghị Ban soạn thảo rà soát toàn bộ Dự thảo và phân tách thành hai nhóm hành vi riêng và mức xử phạt tương ứng.

3.      Hành vi vi phạm quy định về cung cấp, sử dụng dịch vụ qua biên giới

Điều 28 Dự thảo quy định xử phạt đối với nhóm hành vi vi phạm quy định về điều kiện cung cấp dịch vụ kế toán qua biên giới, theo đó có nhiều hành vi vi phạm có cùng tính chất với các hành vi vi phạm cung cấp dịch vụ kế toán không có yếu tố nước ngoài đã quy định tại Dự thảo, ví dụ:

-         “Cung cấp dịch vụ kế toán qua biên giới Việt Nam khi chưa được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán qua biên giới tại Việt Nam” (điểm a khoản 1 Điều 28) có cùng tính chất với hành vi “cung cấp dịch vụ kế toán hoặc hành nghề dịch vụ kế toán khi chưa đủ điều kiện theo quy định” (khoản 3 Điều 27) vì đều là hành vi cung cấp dịch vụ kế toán khi chưa đáp ứng đủ điều kiện theo quy định;

-         “Giả mạo, tẩy xóa, sửa chữa hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán qua biên giới” (điểm c khoản 1 Điều 28) cùng tính chất với hành vi “gian lận, giả mạo hồ sơ đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán” (điểm b khoản 2 Điều 25);

Có các hành vi vi phạm cùng tính chất với các hành vi vi phạm khác nhưng mức xử phạt đối với chủ thể cung cấp dịch vụ kế toán qua biên giới lại cao hơn nhiều so với các chủ thể khác. Điều này là chưa hợp lý, bởi vì cùng một hành vi nên mức độ tác động sẽ là ngang nhau, do đó mức xử phạt phải tương đương. Việc xác định mức xử phạt dựa trên loại chủ thể vi phạm là sự phân biệt bất hợp lý giữa các chủ thể kinh doanh trong cùng điều kiện.

Để đảm bảo tính hợp lý, đề nghị Ban soạn thảo điều chỉnh khung xử phạt đối với các hành vi vi phạm cung cấp sử dụng dịch vụ kế toán qua biên giới tương ứng với khung xử phạt các hành vi tương tự của các chủ thể khác.

Góp ý tương tự đối với nhóm hành vi vi phạm quy định về cung cấp, sử dụng dịch vụ kiểm toán qua biên giới quy định tại Mục 11.

4.      Một số góp ý khác

-         Hành vi vi phạm quy định về phương thức cung cấp dịch vụ qua biên giới (Điều 29)

Điểm b khoản 2 Điều 29 Dự thảo quy định phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi “không giao kết hợp đồng dịch vụ kế toán theo quy định của pháp luật Việt Nam khi cung cấp dịch vụ kế toán qua biên giới tại Việt Nam”. Hành vi vi phạm này có thể được hiểu, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán nước ngoài không ký kết hợp đồng cung cấp dịch vụ bằng văn bản với đơn vị thuê dịch vụ hoặc hợp đồng dịch vụ kế toán không thể hiện đầy đủ các nội dung hoặc hình thức theo quy định.

Xét bản chất thì hoạt động cung cấp dịch vụ kế toán là một giao dịch tư, được thực hiện dựa trên thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng. Những hành vi bị xem là vi phạm trên, xét góc độ nào đó, tác động đến trật tự công là không nhiều, những rủi ro (nếu có) các bên trong giao dịch sẽ là chủ thể gánh chịu hậu quả, do đó về logic pháp lý, xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi này là không thích hợp. Hơn nữa, mức xử phạt cho hành vi này theo quy định tại Dự thảo là quá nặng, nếu so sánh với các nhóm hành vi khác có cùng khung xử phạt, trong khi đây đang được xem là hành vi không tác động đến trật tự công cộng hay gây thiệt hại tới lợi ích công cộng.

Từ phân tích trên, đề nghị Ban soạn thảo cân nhắc không xử phạt đối với hành vi quy định tại điểm b khoản 2 Điều 29 Dự thảo, tức là bỏ quy định này khỏi Dự thảo.

-         Khái niệm chưa rõ ràng

Điểm c khoản 2 Điều 1 Điều 30 quy định phạt tiền đối với hành vi “báo cáo không kịp thời … tình hình thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ kế toán qua biên giới …”.

“Không kịp thời” là khái niệm không rõ, có thể tạo ra nhiều cách hiểu khác nhau, do đó có thể trao nhiều quyền cho cán bộ thực thi, gây khó khăn cho doanh nghiệp. Đề nghị Ban soạn thảo quy định theo hướng định lượng được khái niệm này, chẳng hạn xác định thời hạn chậm nộp báo cáo và mức xử phạt tương ứng.

Trong Dự thảo còn nhiều quy định sử dụng cụm từ “không kịp thời” trong xác định hành vi vi phạm, vì vậy đề nghị Ban soạn thảo rà soát toàn bộ Dự thảo và quy định theo hướng định lượng khái niệm này.

-         Hình thức xử phạt bổ sung quá nặng

Khoản 2 Điều 31 Dự thảo quy định hình thức xử phạt bổ sung “tước quyền Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán trong thời gian từ 06 tháng đến 12 tháng kể từ ngày quyết định xử phạt có hiệu lực đối với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán tại Việt Nam khi thực hiện các hành vi vi phạm” khi liên doanh với doanh nghiệp dịch vụ kế toán nước ngoài để cung cấp dịch vụ kế toán tại Việt Nam.

Hình thức xử phạt bổ sung trên là quá nặng đối với các nhóm hành vi quy định tại khoản 1 Điều 31 Dự thảo, chủ yếu là hành vi vi phạm liên quan đến lưu trữ hồ sơ, báo cáo giải trình, nghĩa vụ báo cáo – những hành vi này so với các hành vi cùng khung xử phạt khác hoặc thấp hơn trong Dự thảo là chưa nguy hiểm bằng (ví dụ: so sánh với hành vi về không đáp ứng đủ điều kiện cung cấp dịch vụ kế toán tại khoản 3 Điều 27 hay hành vi “thông đồng, móc nối với khách hàng để cung cấp, xác nhận thông tin, số liệu kế toán sai sự thật khi cung cấp dịch vụ kế toán cho khách hàng” tại khoản 1 Điều 23).

Để đảm bảo tính công bằng và hợp lý, đề nghị Ban soạn thảo bỏ quy định về hình thức xử phạt bổ sung này. Trường hợp có giải trình hợp lý về lý do phải xử phạt năng đối với hành vi vi phạm này bằng hình thức tước Giấy phép tạm thời thì cũng cần giảm hình thức xử phạt bổ sung quy định tại khoản 2 Điều 31 Dự thảo xuống (ví dụ: có thể tước quyền sử dụng giấy phép trong khoảng thời gian từ 01 đến 03 tháng – tương ứng với hình thức xử phạt bổ sung quy định tại khoản 1 Điều 23 Dự thảo).

-         Hành vi vi phạm quy định về kinh doanh dịch vụ kiểm toán của doanh nghiệp kiểm toán (Điều 42)

Khoản 1 Điều 42 Dự thảo quy định xử phạt đối với “doanh nghiệp không được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán nhưng không làm thủ tục xóa ngành nghề kinh doanh dịch vụ kiểm toán theo quy định” là chưa phù hợp với tinh thần của Luật doanh nghiệp 2014.

Luật doanh nghiệp 2014 đã không còn quy định về ngành, nghề đăng ký kinh doanh trên giấy đăng ký doanh nghiệp, do đó yêu cầu làm thủ tục xóa ngành, nghề kinh doanh dịch vụ kế toán là chưa phù hợp. Hơn nữa, ngay cả khi doanh nghiệp vẫn còn ngành, nghề này trong dữ liệu về đăng ký doanh nghiệp, thì cũng không tác động lớn đến hoạt động quản lý trong lĩnh vực kiểm toán, bởi đây là ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, doanh nghiệp phải có giấy phép mới được cung cấp dịch vụ này. Do đó, có thông tin trong dữ liệu đăng ký doanh nghiệp không có nghĩa doanh nghiệp sẽ có thể cung cấp dịch vụ kiểm toán.

Đề nghị Ban soạn thảo cân nhắc bỏ quy định tại khoản 1 Điều 42 Dự thảo.

-         Khung xử phạt rộng

Theo quy định tại khoản 1 Điều 43 Dự thảo thì khung xử phạt đối với doanh nghiệp kiểm toán thực hiện việc mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho kiểm toán viên hành nghề hoặc trích lập quỹ dự phòng rủi ro nghề nghiệp không đúng với quy định của Bộ Tài chính là “cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng”. Đây là khung xử phạt quá rộng (“cảnh cáo” và mức trần 10.000.000 đồng) và có thể trao nhiều quyền quyết định mức xử phạt đối với cán bộ thực thi, dễ dẫn tới nguy cơ phân biệt đối xử đối với các đối tượng trong cùng điều kiện.

Để hạn chế tình trạng trên, đề nghị Ban soạn thảo thu hẹp khung xử phạt.

-         Hành vi vi phạm quy định về tính độc lập của thành viên tham gia cuộc kiểm toán

Điểm b khoản 1 Điều 48 Dự thảo quy định xử phạt đối với hành vi “tranh giành khách hàng dưới các hình thức ngăn cản, lôi kéo, mua chuộc, thông đồng với khách hàng và các hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác” dường như chồng lấn về phạm vi của Nghị định 71/2014/NĐ-CP quy định chi tiết Luật cạnh tranh về xử lý vi phạm trong lĩnh vực cạnh tranh.

Để đảm bảo tính thống nhất trong hệ thống pháp luật, đề nghị Ban soạn thảo cân nhắc bỏ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 48 Dự thảo.

Trên đây là một số ý kiến ban đầu của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đối với Dự thảo Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán độc lập. Rất mong cơ quan soạn thảo cân nhắc để chỉnh sửa, hoàn thiện Dự thảo này.

Trân trọng cảm ơn sự hợp tác của quý Cơ quan.

Thành viên đang xem chủ đề này