21/7/2017 16:13
VCCI góp ý Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định 37/2006/NĐ-CP về hoạt động xúc tiến thương mại

Kính gửi: Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công Thương

Trả lời Công văn số 5611/BCT-XTTM của Bộ Công Thương về việc đề nghị góp ý Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 37/2006/NĐ-CP ngày 04/4/2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại (sau đây gọi tắt là Dự thảo), Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, trên cơ sở ý kiến của doanh nghiệp, hiệp hội, có một số ý kiến như sau:

Về tổng thể, Dự thảo sửa đổi 24 Điều trong số 43. Điều của Nghị định 37/2006/NĐ-CP (sau đây gọi là Nghị định 37), bổ sung 06 Điều. Nói cách khác, phần lớn các nội dung của Nghị định 37 đã được sửa đổi. Trong khi đó, Dự thảo lại thiết kế theo cách sửa đổi áp dụng đối với trường hợp chỉ sửa một vài điều khoản, một vài điểm nên rất khó theo dõi và dự kiến cũng sẽ rất khó cho việc áp dụng cũng như dẫn chiếu một khi Dự thảo mới được thông qua. Vì vậy, đề nghị Ban soạn thảo cân nhắc trường hợp này để chuyển thành Dự thảo Nghị định thay thế Nghị định 37 (thay vì Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 37 như hiện tại).

Về nội dung chi tiết, các quy định tại Dự thảo đã sửa đổi, bổ sung khá nhiều quy định tại Nghị định 37/2006/NĐ-CP theo hướng tích cực, khắc phục những vướng mắc, bất cập của quy định hiện hành, cải cách thủ tục hành chính tạo thuận lợi cho doanh nghiệp. Đây là những nỗ lực rất đáng hoan nghênh của Ban soạn thảo, thể hiện tinh thần cầu thị và tinh thần làm việc nghiêm túc.

Tuy nhiên, để Nghị định này thực sự khắc phục được những bất cập của thực tế, đề nghị Ban soạn thảo cân nhắc, xem xét một số điểm sau:

1.      Về hạn mức giá trị tối đa dùng để khuyến mại

Theo quy định tại Điều 5, 6 Nghị định 37 thì “giá trị vật chất dùng để khuyến mại cho một đơn vị hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại không được vượt quá 50% giá của đơn vị hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại đó trước thời gian khuyến mại, trừ trường hợp khuyến mại bằng các hình thức quy định tại Điều 7, Điều 8, Điều 11, Điều 12, Điều 13 Nghị định này”; “Mức giảm giá tối đa đối với hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại không được vượt quá 50% giá hàng hóa, dịch vụ đó ngay trước thời gian khuyến mại”.

Đây được xem là một trong những vướng mắc lớn nhất của quy định về khuyến mại hiện hành, bởi ít nhất là các lý do sau:

-         Về mặt quản lý, mục tiêu chính của quy định về hạn mức giá trị tối đa dùng để khuyến mại được giải trình là “nhằm hạn chế sự cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường”[1]. Tuy nhiên, mục tiêu quản lý này dường như chưa hợp lý và không cần thiết bởi trường hợp doanh nghiệp lạm dụng khuyến mại để bán sản phẩm dưới giá thành đến mức “cạnh tranh không lành mạnh”, ảnh hưởng bất lợi đến các đối thủ cạnh tranh trên thị trường thì pháp luật cạnh tranh đã có biện pháp xử lý. Cụ thể, theo Luật Cạnh tranh, đối với những doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường có hành vi “bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh”[2] sẽ bị xử lý bởi các chế tài của pháp luật cạnh tranh. Cũng theo Luật này, những trường hợp bán dưới giá thành khác (ví dụ hành vi bán dưới giá thành của doanh nghiệp mới gia nhập hoặc không chiếm thị phần đáng kể trên thị trường), dù dưới hình thức nào (khuyến mại vào giá hay bất kỳ hình thức nào khác có tác động đến giá bán cuối cùng của hàng hóa), đều không bị cấm hay kiểm soát, do không có tác động đáng kể đến các đối thủ cũng như thị trường cạnh tranh. Như vậy, hành vi khuyến mại của doanh nghiệp bất kỳ không đương nhiên là nguy cơ gây cạnh tranh không lành mạnh mà cần phải được kiểm soát hạn mức khuyến mại;

-         Về mặt kinh tế, khuyến mại là hoạt động gắn liền với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, có tác động thúc đẩy hiệu quả kinh doanh phù hợp với các chiến lược của mỗi doanh nghiệp. Hoạt động này đóng vai trò quan trọng đối với các doanh nghiệp muốn giới thiệu và/hoặc thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ tới người tiêu dùng. Đặc biệt, đối với những doanh nghiệp nhỏ và vừa, mới gia nhập thị trường thì khuyến mại sẽ giúp họ giới thiệu sản phẩm và tiếp cận người tiêu dùng dễ dàng hơn.

Giá trị của khuyến mại là điều hấp dẫn khách hàng đến với hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại. Việc đặt ra giới hạn của giá trị khuyến mại sẽ làm suy giảm giá trị khuyến mại và trở thành rào cản cho doanh nghiệp khi sử dụng công cụ này trong hoạt động kinh doanh, vô hình trung khiến cho hoạt động của doanh nghiệp kém hiệu quả.

-         Hơn nữa, theo quy định tại Nghị định 37 cũng như Dự thảo thì một số hình thức khuyến mại sẽ không bị ràng buộc bởi hạn mức giá trị khuyến mại (các hình thức quy định tại Điều 7, điểm b khoản 1 Điều 8, Điều 11, Điều 12, Điều 13) hay hạn mức tổng giá trị của hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại (các hình thức quy định tại Điều 7; điểm b khoản 1 Điều 8). Điều này là chưa rõ về mục tiêu chính sách. Tại sao lại đặt ra giới hạn cho các hình thức khuyến mại ngoài các quy định trên? Những hình thức khuyến mại bị giới hạn bởi hạn mức sẽ gây ra nguy cơ gì tác động đến lợi ích công hơn các hình thức khuyến mại không bị ràng buộc hạn mức? Các câu hỏi này cho thấy, mục tiêu quản lý nhà nước đối với các hình thức khuyến mại vẫn chưa rõ ràng.

Những vướng mắc, bất cập về hạn mức giá trị khuyến mại cũng đã được phản ánh trong Báo cáo đánh giá tác động. Tuy nhiên, bất cập này lại chưa được giải quyết thỏa đáng tại Dự thảo, cụ thể: Dự thảo vẫn giữ hạn mức 50% giá trị tối đa để khuyến mại, và mới chỉ mở rộng hạn mức giá trị tối đa khuyến mại lên 70% trong một số trường hợp như tổ chức các chương trình khuyến mại tập trung do cơ quan nhà nước chủ trì tổ chức.

Quy định trên cần được cân nhắc, xem xét lại ở các góc độ:

-         Việc giữ nguyên hạn mức 50% thì những bất cập, vướng mắc hiện tại gần như chưa được giải quyết;

-         Đối với việc mở rộng hạn mức 70% nhưng lại trong các trường hợp phụ thuộc hoàn toàn vào quyết định của cơ quan nhà nước (cơ quan Nhà nước có đứng ra các chương trình khuyến mại tập trung hay không) trong khi  hoạt động khuyến mại của doanh nghiệp phải căn cứ vào chiến lược/tình hình kinh doanh của doanh nghiệp và không phải khi nào chiến lược đó cũng trùng với các đợt/chương trình khuyến mại được cơ quan Nhà nước tổ chức. Theo số liệu thống kê trong Báo cáo đánh giá thực thi Nghị định 37[3] thì “đa số các địa phương đều chưa tổ chức hoặc phát động các chương trình khuyến mại như tháng khuyến mại, mùa mua sắm (38/50 địa phương)”[4]. Như vậy có thể thấy, với số lượng ít ỏi địa phương tổ chức chương trình khuyến mại tập trung như hiện nay thì việc mở rộng hạn mức 70% cũng ít tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp.

Tất nhiên, quy định về hạn mức giá trị tối đa dùng để khuyến mại được quy định trong Luật Thương mại 2005 và việc bỏ hoàn toàn quy định này phải chờ tới khi Luật Thương mại được sửa đổi. Tuy nhiên, trong thời gian chờ đợi này, để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và cũng hạn chế đến mức có thể tác động bất lợi của quy định “thừa” về mặt quản lý này, đề nghị Ban soạn thảo mở rộng giới hạn này cho tất cả các trường hợp khuyến mại (ví dụ nâng đồng thời lên 100% hoặc cao hơn).

Chú ý là trong khi Luật Thương mại 2005 quy định về việc có hạn mức khuyến mại, Luật này không có giới hạn nào về hạn mức khuyến mại này, do đó việc đặt ra hạn mức là tùy nghi, phụ thuộc vào nguy cơ mà khuyến mại vượt hạn mức có thể gây ra với cạnh tranh (mà như đã phân tích, nguy cơ này đã được kiểm soát bởi pháp luật cạnh tranh rồi, do đó rất ít ảnh hưởng).

2.      Về thủ tục hành chính

So với Nghị định 37, Dự thảo đã có nhiều quy đinh sửa đổi, bổ sung về thủ tục hành chính theo hướng tích cực, tiến bộ như: bãi bỏ một số thủ tục hành chính (quy định một số hoạt động khuyến mại không phải thực hiện thủ tục thông báo); đơn giản hóa thủ tục hành chính (thực hiện thủ tục hành chính qua hệ thống dịch vụ công trực tuyến); đặc biệt đưa ra nguyên tắc trong thực hiện thủ tục hành chính đó là, nếu cơ quan nhà nước có thẩm quyền không trả lời trong thời hạn quy định thì doanh nghiệp được phép thực hiện … Đây là những tháo gỡ rất thiết thực, sẽ tạo thuận lợi đáng kể cho doanh nghiệp trong quá trình thực hiện.

Tuy nhiên, để tinh thần cải cách thủ tục hành chính được thực hiện một cách triệt để, đề nghị Ban soạn thảo cân nhắc, xem xét một số vấn đề sau:

a.      Nội dung thông báo thực hiện khuyến mại (khoản 16 Điều 1 Dự thảo sửa đổi bổ sung Điều 15 Nghị định 37)

So với Nghị định 37, Dự thảo bổ sung thêm nội dung “thể lệ chi tiết chương trình khuyến mại” vào nội dung doanh nghiệp phải thông báo.

Trên thực tế thời gian qua, mặc dù không có nội dung “thể lệ chi tiết chương trình khuyến mại” này, tức là cơ quan quản lý Nhà nước không kiểm soát nội dung này, hoạt động khuyến mại vẫn được tiến hành bình thường, không xảy ra vấn đề lớn vì lý do không có thể lệ chi tiết được báo trước. Việc Dự thảo bổ sung thêm nội dung phải thông báo so với trước đây, trong khi không xuất phát từ lý do thực tiễn nào là chưa phù hợp với tinh thần cải cách thủ tục hành chính của Chính phủ.

Vì vậy, đề nghị Ban soạn thảo giữ nguyên nội dung phải thông báo như quy định tại khoản 2 Điều 15 Nghị định 37 hiện hành, tức bỏ quy định “thể lệ chi tiết chương trình khuyến mại” dự kiến tại khoản 16 Điều 1 Dự thảo.

b.      Đăng ký thực hiện khuyến mại (khoản 18 Điều 1 Dự thảo sửa đổi Điều 16 Nghị định 37)

(i)                Hồ sơ đăng ký thực hiện khuyến mại:

Dự thảo quy định doanh nghiệp phải cung cấp “Bản sao giấy tờ công bố, xác nhận, chứng nhận … về chất lượng của hàng hóa khuyến mại theo quy định của pháp luật”.

Đề nghị Ban soạn thảo cân nhắc, xem xét lại quy định này ở điểm:

-         Nghị định 37 yêu cầu doanh nghiệp cung cấp tài liệu này trong trường hợp “nếu có”, như vậy so với quy định hiện hành, Dự thảo đã yêu cầu bắt buộc doanh nghiệp phải cung cấp các tài liệu này. Điều này sẽ gia tăng khó khăn cho doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp không phải là người sản xuất, nhập khẩu sản phẩm, bởi họ sẽ rất khó để có các giấy tờ công bố, xác nhận, chứng nhận về chất lượng của hàng hóa khuyến mại – những loại giấy tờ chỉ có người sản xuất, nhập khẩu mới có;

-         Dấu “…” là không thích hợp sử dụng trong văn bản quy phạm pháp luật và khiến cho quy định trở nên thiếu minh bạch, vì ngoài các giấy tờ được liệt kê doanh nghiệp sẽ không biết các loại giấy tờ nào khác phải cung cấp để chứng minh về chất lượng sản phẩm hàng hóa khuyến mại.

Để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, đề nghị Ban soạn thảo bỏ yêu cầu doanh nghiệp phải cung cấp “Bản sao giấy tờ công bố, xác nhận, chứng nhận … về chất lượng của hàng hóa khuyến mại theo quy định của pháp luật” quy định tại điểm d khoản 4 Điều 16 (được sửa đổi).

(ii)             Trình tự thủ tục đăng ký thực hiện khuyến mại

Dự thảo không quy định về thời hạn xem xét và yêu cầu sửa đổi hồ sơ khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiếp nhận hồ sơ. Điều này có thể dẫn tới hiện tượng cán bộ thực thi sẽ yêu cầu doanh nghiệp bổ sung hồ sơ nhiều lần, dẫn đến tình trạng thủ tục hành chính bị kéo dài. Để đảm bảo tính  minh bạch của thủ tục, đề nghị Ban soạn thảo bổ sung quy định về thời gian xem xét tính đầy đủ của hồ sơ và đề ra nguyên tắc, cơ quan nhà nước chỉ yêu cầu doanh nghiệp bổ sung hoàn thiện hồ sơ một lần nếu chưa đầy đủ;

Góp ý tương tự đối với

-         Thủ tục đăng ký tổ chức hội chợ, triển lãm thương mại quy định tại khoản 24 Điều 1 Dự thảo sửa đổi Điều 34 Nghị định 37;

-         Thủ tục thay đổi, bổ sung nôi dung tổ chức hội chợ, triển lãm thương mại đã đăng ký quy định tại khoản 25 Điều 1 Dự thảo sửa đổi Điều 35 Nghị định 37;

-         Thủ tục đăng ký tổ chức cho thương nhân, tổ chức, cá nhân tham gia hội chợ, triển lãm thương mại ở nước ngoài quy định tại khoản 26 Điều 1 Dự thảo sửa đổi Điều 36 Nghị định 37;

-         Thủ tục thay đổi, bổ sung nội dung tổ chức hội chợ, triển lãm thương mại đã đăng ký quy định tại khoản 27 Điều 1 Dự thảo sửa đổi Điều 37 Nghị định 37.

Theo quy định tại khoản 5 Điều 16 (sửa đổi) thì sau khi nhận hồ sơ, cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ xem xét và quyết định xác nhận hoặc từ chối xác nhận. Tuy nhiên, Nghị định 37 cũng như Dự thảo không có quy định nào về tiêu chí để cơ quan nhà nước có thẩm quyền thẩm định hồ sơ và đưa ra quyết định xác nhận hay không. Điều này có thể tạo ra dư địa của tình trạng nhũng nhiễu và phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp, do đó để khắc phục tình trạng này, đề nghị Ban soạn thảo bổ sung quy định về tiêu chí xem xét và đánh giá hồ sơ.

3.      Một số góp ý khác

a.      Thương nhân thực hiện khuyến mại (khoản 1 Điều 1 Dự thảo sửa đổi, bổ sung Điều 2 Nghị định 37)

Dự thảo đưa ra hai phương án về quy định thương nhân thực hiện khuyến mại. Đề nghị lựa chọn phương án 1 bởi đây là phương án hợp lý hơn, diễn giải khá cụ thể về các thương nhân thực hiện khuyến mại.

b.      Hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại, dùng để khuyến mại (khoản 7 Điều 1 Dự thảo)

Dự thảo bổ sung hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại, dùng để khuyến mại trong đó quy định “sữa cho trẻ em dưới 24 tháng tuổi và các hàng hóa, dịch vụ khác theo quy định của pháp luật không được sử dụng để khuyến mại”. Quy định này có nhiều điểm bất hợp lý:

-         Không rõ tại sao lại cấm sử dụng sữa cho trẻ em dưới 24 tháng tuổi để khuyến mại? Đối với những hàng hóa như rượu, xổ số, thuốc lá, thuốc chữa bệnh, thuốc kê đơn – là những loại hàng hóa tác động đến sức khỏe, tính mạng con người hoặc ảnh hưởng đến trật tự xã hội, không khuyến khích tiêu thụ và/hoặc có sự kiểm soát chặt chẽ khi sử dụng, thì việc cấm sử dụng dùng để khuyến mại là hợp lý, phù hợp với các chính sách đang áp dụng đối với các loại hàng hóa, sản phẩm này. Riêng đối với sữa cho trẻ em dưới 24 tháng tuổi thì hoàn toàn khác, đây là một loại hàng hóa không hạn chế tiêu dùng, không thuộc tính chất của các loại sản phẩm trên, do đó việc cấm đối với sản phẩm này là chưa rõ về mục tiêu chính sách. Chú ý, mặc dù đây là sản phẩm có thể ảnh hưởng tới sức khỏe trẻ em, cần bảo đảm chất lượng và cách thức sử dụng nghiêm ngặt nhưng mọi sản phẩm đưa ra thị trường (dù là bán hay khuyến mại) đều phải bảo đảm các yêu cầu liên quan và đã được kiểm soát bởi các quy định khác rồi. Vì vậy, đề nghị Ban soạn thảo bỏ loại sản phẩm này khỏi nhóm “không được sử dụng để khuyến mại”. Trường hợp vẫn giữ, đề nghị Ban soạn thảo giải trình đầy đủ hơn về quy định cấm sản phẩm này.

-         “Các hàng hóa, dịch vụ khác theo quy định của pháp luật” là chưa rõ về các loại hàng hóa, quy định có liên quan và sẽ khiến cho thương nhân không nhận biết được đầy đủ các loại hàng hóa không được dùng khuyến mại. Đề nghị Ban soạn thảo hoặc liệt kê đầy đủ các loại hàng hóa này hoặc dẫn chiếu tới các văn bản có quy định, nếu không đề nghị bỏ cụm từ này.

c.      Tổng thời gian thực hiện chương trình khuyến mại (khoản 10 Điều 1 Dự thảo sửa đổi khoản 4 Điều 9 Nghị định 37)

Dự thảo đưa ra hai phương án trong đó:

-         Phương án 1: Tổng thời gian thực hiện chương trình khuyến mại bằng cách giảm giá đối với một loại nhãn hiệu hàng hóa, dịch vụ không được vượt quá 90 ngày trong một năm; một chương trình khuyến mại không được vượt quá 45 ngày;

-         Phương án 2: Bỏ khoản này

Phương án 2 là hợp lý, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, trong khi những hạn chế về khuyến mại như phân tích ở mục 1 bản góp ý này là chưa hợp lý.

d.      Chấm dứt thực hiện chương trình khuyến mại (khoản 20 Điều 1 Dự thảo sửa đổi Điều 19 Nghị định 37)

Dự thảo sửa đổi, bổ sung Điều 19 Nghị định 37 như sau:

1.      Thương nhân thực hiện khuyến mại không được chấm dứt việc thực hiện chương trình khuyến mại trước thời hạn đã công bố hoặc đã được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền xác nhận, trừ trường hợp bất khả kháng theo quy định của pháp luật;

2.      Thương nhân thực hiện khuyến mại hết số lượng đã công bố hoặc đã được cơ quan quản lý nhà nước xác nhận về hàng hóa, dịch vụ khuyến mại hoặc hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại và đảm bảo đầy đủ quyền lợi khách hàng đã tham gia chương trình

Về mặt hình thức, Dự thảo sửa lại cách trình bày của Điều 19 Nghị định 37, theo đó thay vì nêu nguyên tắc chung (cấm chấm dứt khuyến mại) và 02 ngoại lệ (bất khả kháng và đã khuyến mại hết số lượng) thì lại chuyển nguyên tắc và ngoại lệ thứ nhất (bất khả kháng) vào một khoản (khoản 1); còn ngoại lệ thứ hai (đã sửa nội dung) đứng “chơ vơ” ở khoản 2, không rõ ý nghĩa (không rõ có phải ngoại lệ hay không, cũng không rõ có phải tuân thủ nguyên tắc chung tại khoản 1 hay không) trong khi tên của Điều thì vẫn là “chấm dứt thực hiện chương trình khuyến mại. Do đó, đề nghị Ban soạn thảo thiết kế lại Điều này theo cách thiết kế cũ của Điều 19 Nghị định 37 hiện hành.

Về nội dung:

-         Ngoại lệ về bất khả kháng: Việc dự thảo bỏ các             quy định trước đây về yêu cầu thông báo cho khách hàng và cơ quan quản lý về việc chấm dứt chương trình khuyến mại có thể là thuận lợi cho doanh nghiệp nhưng lại không bảo vệ được lợi ích người tiêu dùng, trong khi đó việc thông báo công khai cho khách hàng lại không tạo chi phí gì quá lớn cho doanh nghiệp. Vì vậy, đề nghị Ban soạn thảo sửa lại quy định này như sau “giữ quy định về việc phải thông báo công khai cho khách hàng việc dừng/chấm dứt khuyến mại vì lý do bất khả kháng.

-         Về ngoại lệ mới “hết hàng khuyến mại”: Quy định trên chưa giải quyết cho trường hợp, thương nhân thực hiện khuyến mại sử dụng cả hai yếu tố thời gian và số lượng hàng khuyến mại, trong đó có đưa ra điều kiện: khuyến mại sẽ chấm dứt khi một trong hai yếu tố thời gian hoặc số lượng hàng khuyến mại đến trước.

Nếu áp dụng quy định ở khoản 1 (theo cách thiết kế dự kiến của Dự thảo), thương nhân không được chấm dứt thực hiện khuyến mại trước thời hạn trong mọi trường hợp trừ trường hợp bất khả kháng. Như vậy, trong trường hợp thương nhân áp dụng chương trình khuyến mại với điều kiện này thì sẽ vi phạm quy định khi số lượng hàng khuyến mại đã hết nhưng thời gian khuyến mại vẫn còn.

-         Ngoại lệ về việc chấm dứt khuyến mại theo quyết định đình chỉ của cơ quan có thẩm quyền: Việc Dự thảo bỏ ngoại lệ này của Điều 19 Nghị định 37 sẽ chỉ hợp lý nếu vẫn giữ cách thiết kế quy định theo Nghị định 37 (tức là chỉ xem xét việc chấm dứt khuyến mại xuất phát từ “thương nhân”), còn nếu theo cách thiết kế mới (tất cả các trường hợp chấm dứt) thì lại không phù hợp.

Từ các lý do trên, đề nghị Ban soạn thảo sửa đổi Điều 19 này theo hướng quy định lại như sau:

“Thương nhân thực hiện khuyến mại không được chấm dứt việc thực hiện chương trình khuyến mại trước thời hạn đã công bố hoặc đã được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền xác nhận, trừ các trường hợp quy định dưới đây:

1. Trong trường hợp bất khả kháng, thương nhân có thể chấm dứt chương trình khuyến mại trước thời hạn nhưng phải thông báo công khai tới khách hàng.

2. Thương nhân thực hiện khuyến mại hết số lượng đã công bố hoặc đã được cơ quan quản lý nhà nước xác nhận về hàng hóa, dịch vụ khuyến mại hoặc hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại và đảm bảo đầy đủ quyền lợi khách hàng đã tham gia chương trình”

Trên đây là một số ý kiến ban đầu của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đối với Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 37/2006/NĐ-CP ngày 04/4/2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại. Rất mong cơ quan soạn thảo cân nhắc để chỉnh sửa, hoàn thiện Dự thảo này.

Ngoài ra gửi kèm theo một số góp ý cụ thể về Dự thảo mà một số doanh nghiệp gửi cho Phòng Thương mại và Công nghiệp để Quý Cơ quan cân nhắc, xem xét.

Trân trọng cảm ơn sự hợp tác của quý Cơ quan.



[1] Trang 5 Báo cáo đánh giá tác động của các chính sách trong đề nghị Dự thảo Nghị định (tài liệu gửi kèm Dự thảo)

[2] Khoản 1 Điều 13 Luật cạnh tranh 2005

[3] Tài liệu gửi thành viên Tổ biên tập, Ban soạn thảo Nghị định 37

[4]  Mục 3.1.4 Mục 3 Báo cáo Đánh giá thực thi Nghị định 37 (Trang 14)

Thành viên đang xem chủ đề này