28/2/2017 14:12
VCCI góp ý dự thảo Luật Quản lý ngoại thương

Kính gửi: Ủy ban Kinh tế Quốc hội

Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam có một số ý kiến góp ý đối với Dự thảo Luật Quản lý ngoại thương (phiên bản ngày 16/02/2017) như sau:

I.                   Về quan điểm tiếp cận

Mục tiêu tập hợp các quy định pháp luật liên quan tới cơ chế quản lý Nhà nước đối với hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế (hoạt động ngoại thương) vào một văn bản chung của Dự Luật này là hợp lý. Đây sẽ là cơ sở giúp các chủ thể mua bán hàng hóa quốc tế thuận lợi trong xác định các quy trình, thủ tục, điều kiện cần thiết, từ đó tuân thủ tốt hơn pháp luật. Trong một nền kinh tế định hướng xuất khẩu như nước ta, một cơ chế quản lý hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế minh bạch, thuận lợi, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng để có thể hội nhập hiệu quả.

Tuy nhiên, cần chú ý rằng, hoạt động ngoại thương bao trùm rất nhiều các khía cạnh khác nhau (thủ tục hải quan, cơ chế quản lý chuyên ngành đối với một số hàng hóa đặc thù, thậm chí cả cơ chế quản lý đối với đầu tư kinh doanh hàng hóa liên quan). Do đó, quản lý hoạt động ngoại thương trong Dự thảo này nếu không cẩn trọng sẽ rất dễ dẫn tới hệ quả làm môi trường kinh doanh phức tạp hơn, quản lý chồng chéo hơn, hiệu quả kinh doanh giảm sút.

Do đó, để hiện thực hóa các mục tiêu nói trên, nội dung Dự thảo cần bảo đảm các yêu cầu sau:

-         Tập trung vào các vấn đề đặc thù trong quản lý hoạt động ngoại thương, không lấn sân, chồng lấn với các lĩnh vực quản lý khác vốn trước nay đã được thực hiện theo cơ chế thống nhất, tập trung và ổn định;

-         Thống nhất, minh bạch và đơn giản hóa các cơ chế quản lý hoạt động ngoại thương hiện có, không tạo ra các giấy phép con, các cơ chế kiểm soát mới;

-         Xây dựng các nguyên tắc, điều kiện, quy trình minh bạch, cụ thể, hạn chế tối đa tình trạng trao quá nhiều quyền tự quyết cho các cơ quan thừa hành.

Rà soát các quy định trong Dự thảo hiện tại cho thấy nhiều nội dung của Dự thảo dường như chưa bảo đảm được các yêu cầu nói trên. Cụ thể:

II.               Về các ý kiến cụ thể

1.      Một số các quy định trong Dự thảo thiếu cụ thể, có thể bị lạm dụng

Rất nhiều quy định trong Dự thảo mang tính tuyên bố chính sách – chỉ quy định về nguyên tắc, không quy định chi tiết hơn về các biện pháp quản lý hoạt động ngoại thương. Điều này khiến cho chính sách về quản lý ngoại thương trở nên thiếu rõ ràng, trao quá nhiều quyền cho các văn bản cấp dưới quyết định và làm giảm hiệu lực đáng kể của văn bản cấp Luật này.

Ví dụ: Biện pháp hạn ngạch và hạn ngạch thuế quan (các Điều18 - 23 Dự thảo)

Dự thảo hiện bao gồm các quy định về: Định nghĩa biện pháp hạn ngạch, nguyên tắc áp dụng và thẩm quyền áp dụng.

Tuy nhiên, nội dung các quy định trong Dự thảo về các vấn đề trên lại chỉ được nêu một cách chung chung, chưa giải quyết được các vấn đề quan trọng cốt lõi trong cơ chế hạn ngạch thuế quan, ví dụ:

-         Bộ trưởng Bộ Công Thương quyết định hàng hóa cần áp dụng hạn ngạch xuất khẩu, nhập khẩu dựa trên tiêu chí nào?

+ Đối với việc quyết định hạn ngạch xuất khẩu/nhập khẩu: (i) tiêu chí về “đảm bảo cân đối vĩ mô, tăng trưởng kinh tế từng thời kỳ” là quá chung chung (khi nào thì cân đối vĩ mô nghiêm trọng tới mức phải áp dụng hạn ngạch? Khi nào thì tăng trưởng kinh tế đòi hỏi phải áp dụng hạn ngạch?); (ii) tiêu chí “nước nhập khẩu áp dụng biện pháp hạn ngạch đối với hàng hóa xuất khẩu Việt Nam” là chưa đầy đủ (bởi về mặt cam kết pháp lý, không phải khi nào Việt Nam cũng có thể tự động áp dụng biện pháp trả đũa như vậy) và không tự động (trong thực tế, nhiều trường hợp vì chính lợi ích của Việt Nam, Việt Nam không mong muốn áp dụng biện pháp trả đũa. Do đó việc chỉ nêu các tiêu chí chung này hầu như rất ít ý nghĩa;

+ Đối với việc quyết định hạn ngạch thuế quan: cam kết quốc tế chỉ quy định về hạn ngạch thuế quan tối thiểu, không ngăn cản các nước quyết định mức hạn ngạch thuế quan cao hơn nếu muốn – vậy trong trường hợp này Bộ Công thương có thể quyết định hạn ngạch thuế quan cao hơn mức tối thiểu trong cam kết không? Nếu có thì dựa vào tiêu chí nào để quyết định? quyết định của Bộ Công thương có cần được phê chuẩn bởi Quốc hội hay Chính phủ không, bởi vấn đề thuế quan thuộc thẩm quyền của 02 cơ quan này?

-         Bộ trưởng Bộ Công Thương thực hiện việc phân bổ hạn ngạch theo phương thức nào? Dự thảo chưa có bất kỳ dự liệu gì về phương thức phân bổ hạn ngạch (đấu thầu công khai? ai xin trước cho trước? quyết định một lần hay nhiều lần trong năm? Hạn ngạch phân bổ nếu không sử dụng hết thì xử lý thế nào, thời hạn chuyển trả hạn ngạch không sử dụng…?). Chú ý là vấn đề hạn ngạch liên quan trực tiếp tới lợi ích của các chủ thể nhập khẩu, do đó phương pháp phân bổ hạn ngạch như thế nào để bảo đảm công bằng, minh bạch là rất quan trọng và cần được quy định ngay trong Luật, tránh tình trạng tham nhũng, cửa quyền và bất công bằng như đã từng xảy ra trong phân bổ hạn ngạch dệt may trước đây.

-         Kết quả của việc phân bổ hạn ngạch sẽ thế nào: cấp phép cho thương nhân hay là hình thức khác?

-         Cơ quan có thẩm quyền áp dụng hạn ngạch: khoản 1 Điều 20 Dự thảo có quy định “Bộ trưởng Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan, tổ chức có liên quan để quyết định việc áp dụng hạn ngạch”: Quy định này không xác định rõ được thẩm quyền quyết định hạn ngạch của các bộ, cơ quan, tổ chức liên quan (họ có quyền bỏ phiếu quyết định không, hay Bộ Công thương chỉ tham khảo ý kiến? Bộ Công thương tự quyết định đâu là cơ quan, tổ chức liên quan để lấy ý kiến? Bộ Công thương tiến hành lấy ý kiến vào thời điểm nào, khi bắt đầu xem xét hay trước khi quyết định cuối cùng?...)

-         Các quy định này có được hướng dẫn chi tiết ở văn bản cấp dưới không (theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 thì đối với những quy định cần quy định chi tiết của Luật này thì phải ủy quyền ngay trong Luật)?

Việc Dự thảo chỉ quy định chung chung, mang tính tuyên bố chính sách sẽ khiến cho việc áp dụng Luật trên thực tế gặp khó khăn và chính sách trở nên thiếu nhất quán khi hướng dẫn tiếp ở các văn bản cấp dưới.

Nhận xét tương tự với các quy định về nguyên tắc áp dụng và/hoặc thẩm quyền quyết định biện pháp cấm xuất khẩu, nhập khẩu (Điều 10), biện pháp tạm ngừng xuất khẩu/nhập khẩu (Điều 13, 14, 15), chỉ định cửa khẩu xuất khẩu/nhập khẩu (Điều 25, 26), chỉ định thương nhân xuất khẩu, nhập khẩu (Điều 27, 28), quản lý theo giấy phép nhập khẩu/xuất khẩu (Điều 30, 32), chứng nhận lưu hành tự do (Điều 38).

Do đó, đề nghị Quý Cơ quan xem xét yêu cầu Ban soạn thảo rà soát các Điều nói trên và toàn bộ Dự thảo và điều chỉnh các quy định theo hướng cụ thể, rõ ràng hơn, ít nhất là làm rõ được các vấn đề được nêu ở trên.

2.      Về các giấy phép kinh doanh trong Dự thảo

(i)                Về các loại giấy phép kinh doanh

Dự thảo quy định về nhiều loại giấy phép kinh doanh liên quan tới các hoạt động ngoại thương, ví dụ:

-         Giấy phép nhập khẩu hàng hóa liên quan tới an ninh quốc phòng (Điều 10);

-         Giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu đối với hàng hóa thuộc diện cấm xuất khẩu, nhập khẩu (Điều 11)

-         Chỉ định thương nhân xuất khẩu, nhập khẩu (Điều 27)

-         Chứng nhận lưu hành tự do (Điều 39)

-         Giấy phép kinh doanh tạm nhập tái xuất hàng hóa hóa thuộc Danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu; hàng hóa tạm ngừng xuất khẩu, tạm ngừng nhập khẩu; hàng hóa chưa được phép lưu hành, sử dụng tại Việt Nam; hàng hóa thuộc diện quản lý bằng các biện pháp hạn ngạch, hạn ngạch thuế quan, giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu (Điều 40.1a)

-         Giấy phép tạm nhập tái xuất đối với hàng hóa thuộc diện quản lý bằng các biện pháp hạn ngạch, hạn ngạch thuế quan, giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu; hàng hóa chưa được phép sử dụng, lưu hành tại Việt Nam(cho từng lô hàng loại được liệt kê) (Điều 42.2a)

-         Giấy phép tạm xuất tái nhập đối với hàng hóa thuộc Danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, nhập khẩu; hàng hóa tạm ngừng xuất khẩu, nhập khẩu; hàng hóa thuộc diện quản lý bằng các biện pháp hạn ngạch, hạn ngạch thuế quan, giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu (Điều 43.2a)

-         Giấy phép chuyển khẩu hàng hóa hàng hóa thuộc Danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, nhập khẩu; hàng hóa tạm ngừng xuất khẩu, tạm ngừng nhập khẩu; hàng hóa chưa được phép lưu hành, sử dụng tại Việt Nam; hàng hóa thuộc diện quản lý bằng các biện pháp hạn ngạch, hạn ngạch thuế quan, giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu (Điều 44.1)

-         Giấy phép quá cảnh đối với hàng hóa thuộc Danh mục cấm xuất khẩu, nhập khẩu (Điều 45.2)

-         Cho phép thanh toán bằng hàng hóa thuộc Danh mục hàng hóa xuất khẩu theo giấy phép (Điều 49.2)

-         Cho phép ký hợp đồng gia công đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép (Điều 52.2)

-         Cho phép thực hiện hoạt động gia công đối với hàng hóa thuộc Danh mục cấm xuất khẩu, nhập khẩu, tạm ngừng xuất khẩu, nhập khẩu (Điều 52.3)

Hiện chưa thấy có giải trình của Cơ quan soạn thảo về nguồn gốc và sự cần thiết của các giấy phép này, cũng như nhận diện các giấy phép này là giấy phép mới hay là các giấy phép đang tồn tại được tập hợp ở đây. Trong khi đây là lại vấn đề rất quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp tới mục tiêu tạo thuận lợi thương mại và hạn chế các giấy phép không cần thiết cản trở hoạt động kinh doanh của Chính phủ.

Đặc biệt, từ góc độ pháp lý, cần chú ý là theo Danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện của Luật Đầu tư sửa đổi 2016, liên quan tới hoạt động ngoại thương được nêu trong Dự thảo Luật này thì ngành Công Thương chỉ có các ngành nghề sau là ngành nghề kinh doanh có điều kiện (mà cũng không nhất thiết dưới dạng giấy phép kinh doanh mà có thể chỉ là điều kiện kinh doanh hậu kiểm mà không cần giấy phép nào):

-         Kinh doanh tam nhập, tái xuất hàng thực phẩm đông lạnh

-         Kinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng hóa có thuế tiêu thụ đặc biệt

-         Kinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng hóa thuộc Danh mục đã qua sử dụng, hàng hóa  (chứ không phải là tất cả các loại hàng hóa liệt kê trong Điều 42.2a, 43.2a)

Nếu so sánh với Danh mục trong Luật Đầu tư thì Dự thảo hiện không chỉ bổ sung thêm rất nhiều loại giấy phép không có trong Danh mục của Luật Đầu tư, mà còn mở rộng diện cấp phép đối với các trường hợp ngành nghề kinh doanh có điều kiện được phép theo Luật Đầu tư sửa đổi 2016 (Luật Đầu tư chỉ nêu 01 ngành nghề kinh doanh là tạm nhập tái xuất, và cũng chỉ với 03 nhóm hàng hóa).

Như vậy, Dự thảo Luật này đang mâu thuẫn với Luật Đầu tư 2016 (mà chú ý là theo Điều 4.2 Luật Đầu tư thì “Trường hợp có quy định khác nhau giữa Luật này và luật khác về ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh, ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, trình tự, thủ tục đầu tư thì thực hiện theo quy định của Luật này (Luật Đầu tư), trừ trình tự, thủ tục đầu tư kinh doanh theo quy định tại Luật chứng khoán, Luật các tổ chức tín dụng, Luật kinh doanh bảo hiểm và Luật dầu khí”).

Do đó, đề nghị Quý Cơ quan xem xét yêu cầu Ban soạn thảo giải trình cụ thể về từng loại giấy phép trong Dự thảo này.

(ii)             Về các điều kiện, trình tự, thủ tục cấp phép

Ngay cả khi các giấy phép trong Dự thảo là có căn cứ pháp lý, cần thiết và được giải trình thuyết phục thì các nội dung về các giấy phép này trong Dự thảo cũng chưa bảo đảm yêu cầu minh bạch (không có quy định cụ thể nào về trình tự thủ tục cấp phép, tiêu chí để cơ quan có thẩm quyền chấp thuận/từ chối cấp phép – kể cả khi các vấn đề này sẽ được quy định chi tiết trong văn bản hướng dẫn Luật này thì ít nhất các nội dung mang tính nguyên tắc để định hướng/giới hạn các văn bản hướng dẫn cũng cần được quy định tại đây). Ví dụ về một số quy định chung chung về các loại giấy phép xuất hiện trong Dự thảo Luật:

-         Hàng hóa bị cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu vì liên quan đến quốc phòng, an ninh:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 10 Dự thảo thì hàng hóa sẽ bị cấm nhập khẩu nếu “liên quan đến quốc phòng, an ninh chưa được phép của cơ quan có thẩm quyền”, có nghĩa những hàng hóa liên quan đến quốc phòng, an ninh muốn xuất khẩu, nhập khẩu phải xin phép các cơ quan có thẩm quyền. Tuy nhiên, Dự thảo lại không có quy định nào liên quan đến việc cấp phép này (thủ tục, tiêu chí, cơ quan cấp phép);

-         Hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu được phép nhập khẩu:

Khoản 2 Điều 11 Dư thảo quy định, hàng hóa thuộc Danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu sẽ được nhập khẩu nếu thuộc một số trường hợp đặc biệt (được liệt kê) và Thủ tướng Chính phủ quyết định cho phép xuất khẩu, nhập khẩu trường hợp này. Không rõ căn cứ, tiêu chí và thủ tục để doanh nghiệp có được sự cho phép này? Không rõ hình thức cấp phép ở đây theo từng lô hàng hay như thế nào? (nếu theo từng lô hàng thì cần tính đến sự quá tải trong hoạt động cấp phép này nếu dồn thẩm quyền cho Thủ tướng. Nếu không theo lô hàng thì không rõ cơ chế nào kiểm soát đối với nhóm hàng hóa trong trường hợp ngoại lệ này để đảm bảo mục đích nhập khẩu đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 11 Dự thảo);

Góp ý tương tự đối với trường hợp ngoại lệ của biện pháp tạm ngừng xuất khẩu, tạm ngừng nhập khẩu quy định tại khoản 1 Điều 15 Dự thảo.

-         Đối với các hàng hóa bị áp dụng biện pháp hạn ngạch, quy định từ Điều 16 - 23 Dự thảo cũng không làm rõ được, để có thể nhập khẩu, xuất khẩu đối với các loại hàng hóa này thì thương nhân phải thỏa mãn điều kiện gì? Nhà nước sẽ thực hiện biện pháp này theo cách thức gì?

-         Về giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu (Điều 32)

Dự thảo chỉ quy định giao Chính phủ ban hành quy chế về cấp giấy phép mà không nếu bất kỳ nguyên tắc hay tiêu chí nào để Chính phủ thực hiện việc này (điều này được hiểu là Chính phủ có thể quy định các điều kiện cấp phép tùy nghi, không bị giới hạn nào bởi Luật này?).

Nhận xét tương tự với thủ tục cấp Giấy chứng nhận lưu hành tự do tại Điều 39.

-         Về chứng nhận xuất xứ hàng hóa (Điều 35)

Theo quy định tại Dự thảo thì sẽ có thương nhân được tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa và các thương nhân này sẽ phải có “văn bản chấp thuận” của Bộ Công Thương. Tuy nhiên, Dự thảo lại không quy định, các thương nhân như thế nào sẽ được chấp thuận cho tự chứng nhận cũng như trình tự, thủ tục để có được sự chấp thuận này.

Góp ý tương tự đối với điều kiện thương nhân được chỉ định xuất khẩu, nhập khẩu quy định tại Điều 27, 28 Dự thảo.

Như đã đề cập, giấy phép kinh doanh có tác động lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời ảnh hưởng không nhỏ đến mức độ thuận lợi của môi trường đầu tư, kinh doanh của nước ta. Việc thiếu minh bạch trong quy định về giấy phép/các loại tương tự như giấy phép, sẽ là cản trở đáng kể cho hoạt động của các doanh nghiệp cũng như sự thu hút các nhà đầu tư vào nước ta.

Để đảm bảo tính minh bạch, đề nghị Quý Cơ quan xem xét yêu cầu Ban soạn thảo rà soát lại toàn bộ Dự thảo và quy định rõ về các quy định liên quan đến hoạt động cấp phép, ít nhất là các điểm được nêu ở trên.

3.      Liên quan tới giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu

Trong thương mại quốc tế, theo các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã có (đặc biệt là cam kết trong WTO), Chính phủ được phép áp dụng hình thức quản lý bằng giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu đối với một số loại hàng hóa. Đây là loại “giấy phép” đặc thù bởi nó không gắn với khái niệm giấy phép kinh doanh thông thường mà gắn với loại hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và bị ràng buộc bởi các cam kết (về thủ tục, điều kiện cấp phép, loại hàng hóa có thể quản lý bằng hình thức này…). Do đó, việc Dự thảo quy định về vấn đề này là phù hợp.

Tuy nhiên, cách thức quy định hiện nay trong Dự thảo lại chưa nêu được bản chất của cơ chế quản lý này, khiến loại này lẫn với các loại giấy phép kinh doanh thông thường khác, làm rối cơ chế quản lý và có nguy cơ tạo ra xung đột pháp luật. Cụ thể:

(i)                Về đối tượng bị quản lý

Như phân tích ở trên thì thực chất đây không phải vấn đề giấy phép kinh doanh (cấp cho thương nhân) mà là vấn đề nhóm hàng hóa quản lý bằng giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu (cấp cho người xuất khẩu/nhập khẩu khi xuất/nhập khẩu các loại hàng hóa đó).

Trong khi đó, theo quy định tại Điều 29 Dự thảo thì:

-         Giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa là văn bản hoặc các hình thức khác có giá trị tương đương mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho thương nhân để thực hiện hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa

-         Quản lý xuất khẩu, nhập khẩu theo điều kiện là biện pháp mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định điều kiện, tiêu chuẩn không cần giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu đối với một số loại hàng hóa khi xuất khẩu, nhập khẩu

Quy định tại Điều 29 này sẽ đặt ra câu hỏi: điều kiện ở đây được áp dụng cho hàng hóa hay là thương nhân?

Hơn nữa, nếu chủ thể được cấp phép hoặc phải đáp ứng điều kiện là thương nhân thì việc Chính phủ quy định “Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép, điều kiện” sẽ có nguy cơ xung đột với “Danh mục về ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện” quy định tại Luật Đầu tư năm 2014 (Danh mục được sửa đổi năm 2016). Chỉ khi đây là vấn đề đối với loại hàng hóa, theo cơ chế đặc thù như trong WTO cho phép, thì Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép mới là phù hợp và không mâu thuẫn với hệ thống pháp luật về giấy phép kinh doanh hiện hành.

Cũng liên quan tới Danh mục các loại hàng hóa này, hiện Dự thảo cũng không quy định rõ về căn cứ để xác định hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép, điều kiện (Chú ý là căn cứ duy nhất hiện có nêu tại Điều 30.1 “tuân thủ các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên” là không đủ, bởi trong nhiều trường hợp Điều ước không cam kết rõ loại hàng hóa, và ngay cả khi có liệt kê các loại hàng hóa như vậy thì Việt Nam vẫn có thể chủ động không áp dụng hình thức này đối với một số loại hàng hóa mà mình muốn). Việc thiếu vắng hoàn toàn các căn cứ này sẽ dẫn tới tình trạng rất khó để định hình hoặc dự báo biện pháp quản lý này sẽ được áp dụng cho loại hàng hóa nào. Chính phủ khi quy định chi tiết (xây dựng Danh mục) sẽ dựa trên các tiêu chí nào?

(ii)             Về điều kiện, trình tự thủ tục cấp phép

Liên quan tới điều kiện, thủ tục cấp phép xuất khẩu, nhập khẩu, như đã đề cập ở trên, Việt Nam bị ràng buộc bởi ít nhất là các nguyên tắc bắt buộc trong Hiệp định về thủ tục cấp phép nhập khẩu của WTO, ví dụ:

-         Thủ tục cấp phép phải đơn giản, minh bạch, có thể dự đoán trước

-         Các thông tin về thủ tục cấp phép phải được công bố

-         Cách thức đánh giá các điều kiện trước khi cấp phép

-         Các loại giấy phép nhập khẩu tự động, tiêu chuẩn áp dụng đối với các trường hợp này

-         Các tiêu chuẩn đối với trường hợp giấy phép không tự động (hồ sơ, thời hạn cấp phép tối đa….)

Đây là những vấn đề đã cam kết bắt buộc, ổn định trong WTO, vì vậy Việt Nam không chỉ bắt buộc phải thực hiện mà hiện hoàn toàn có thể quy định luôn ít nhất là các nguyên tắc này trong Dự thảo Luật này. Chính phủ chỉ cần quy định chi tiết dựa trên các nguyên tắc này.

Vì vậy, đề nghị Quý Cơ quan xem xét yêu cầu Ban soạn thảo điều chỉnh, bổ sung làm rõ các vấn đề về căn cứ, loại hàng hóa, trình tự, thủ tục, điều kiện liên quan tới giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu nói trên.

4.      Một số vấn đề trong Dự thảo chồng lấn phạm vi với các văn bản pháp luật khác

Một số chế định trong Dự thảo chồng lấn phạm vi với các văn bản pháp luật khác vốn đã và đang vận hàng ổn định. Ví dụ:

-         Về hoạt động quá cảnh hàng hóa: Vấn đề mặc dù có liên quan tới ngoại thương nhưng việc quản lý trên lãnh thổ Việt Nam thì thuần túy liên quan tới hải quan. Pháp luật hải quan trước nay vẫn quy định về vấn đề này và việc quản lý trên thực tế đang được thực hiện ổn định bởi cơ quan hải quan, và các cơ quan quản lý chuyên ngành khi cần thiết (ví dụ với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an khi hàng hóa quá cảnh liên quan tới an ninh quốc phòng);

-         Đại lý mua bán hàng hóa cho thương nhân nước ngoài, Ủy thác/nhận ủy thác xuất khẩu, nhập khẩu, Gia công hàng hóa cho thương nhân nước ngoài và đặt gia công ở nước ngoài: Mặc dù các hoạt động thương mại này là có yếu tố nước ngoài nhưng về bản chất thì đây là các hoạt động thương mại đơn thuần, đã thuộc phạm vi quy định của Luật Thương mại (yếu tố nước ngoài trong các hoạt động này nếu cần kiểm soát thì đã được quản lý bởi các cơ chế liên quan, ví dụ hàng hóa làm đại lý, ủy thác là hàng hóa xuất nhập khẩu có điều kiện thì đã có các cơ chế quản lý riêng đã nêu trong chính Luật này; nếu hàng hóa được gia công là đặc thù như dược phẩm thì việc gia công đã được quy định trong pháp luật về dược phẩm…).

Việc Luật này quy định lại, mà không tạo thêm giá trị nào, hoặc làm bổ sụng thêm nghĩa vụ, thủ tục mới cho các hoạt động trước nay vẫn thực hiện ổn định là không cần thiết, làm phức tạp hệ thống pháp luật và gây khó khăn cho doanh nghiệp.

Vì vậy, đề nghị Quý Cơ quan xem xét yêu cầu Ban soạn thảo xem xét lược bỏ các quy định về quá cảnh, đại lý, ủy thác, gia công ra khỏi Dự thảo Luật này. Trường hợp có giải trình thực sự thuyết phục về việc cần thiết phải có quy định trong Luật này thì cần xác định rõ tinh thần hủy bỏ các quy định hiện tại trong pháp luật liên quan.

5.      Về giải quyết tranh chấp về áp dụng biện pháp quản lý ngoại thương

Chương VII (Điều 111-114) Dự thảo quy định về cơ chế giải quyết tranh chấp cấp Chính phủ liên quan tới việc áp dụng các biện pháp quản lý ngoại thương.

Trên thực tế, việc thiết lập và duy trì một cơ chế nội bộ của Việt Nam để xử lý hiệu quả các vụ tranh chấp thương mại cấp Chính phủ (ví dụ các vụ kiện trong WTO, các vụ tranh chấp theo các cơ chế giải quyết tranh cấp Chính phủ theo các Hiệp định thương mại, các Điều ước quốc tế…) là rất cần thiết trong bối cảnh Việt Nam tham gia ngày càng sâu vào thương mại quốc tế với rất nhiều các cam kết mở cửa thương mại và phần lớn đều bao gồm các cam kết liên quan tới việc giải quyết tranh chấp phát sinh trong quá trình thực thi các hiệp định, điều ước này. Trong một số vụ kiện WTO mà Việt Nam là nguyên đơn vừa qua, sự lúng túng trong quá trình xử lý đã cho thấy sự cần thiết của cơ chế nội bộ này. Nếu Việt Nam là bị đơn, vấn đề sẽ còn phức tạp hơn nữa nếu thiếu một cơ chế như vậy.

Vấn đề là Việt Nam cần phải thiết lập một cơ chế nội bộ để xử lý tất cả các tranh chấp thương mại cấp Chính phủ cho tất cả các biện pháp có thể bị kiện hoặc đi kiện (tức là tất cả các biện pháp có cam kết trong WTO, các Hiệp định thương mại…như các biện pháp thuế quan, các biện pháp phi thuế, các biện pháp về đầu tư, mở cửa dịch vụ, mua sắm công, sở hữu trí tuệ….) chứ không thể cát cứ mỗi loại biện pháp (ví dụ biện pháp quản lý ngoại thương) lại là một cơ chế xử lý tranh chấp riêng như đề xuất tại Dự thảo này. Nếu theo cách này thì bất kỳ Luật nào về các biện pháp có cam kết và có thể bị kiện đều phải có một Chương riêng, với cơ chế riêng về xử lý tranh chấp cấp Chính phủ?

Vì vậy, đề nghị Quý Cơ quan xem xét yêu cầu Ban soạn thảo bỏ Chương VII về cơ chế giải quyết tranh chấp cấp Chính phủ liên quan tới việc áp dụng các biện pháp quản lý ngoại thương.

6.      Một số góp ý liên quan đến kỹ thuật soạn thảo văn bản

-         Giải thích từ ngữ “hoạt động quản lý ngoại thương”: khoản 1 Điều 3 Dự thảo quy định, hoạt động quản lý ngoại thương là hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và liệt kê các hình thức thể hiện. Dự thảo có quy định về các hoạt động đại lý, ủy thác, gia công – về bản chất, đây không phải là hoạt động mua bán hàng hóa (có sự chuyển giao quyền sở hữu giữa các chủ thể trong giao dịch) mà là hoạt động cung cấp dịch vụ. Vậy theo phạm vi định nghĩa của hoạt động ngoại thương ở trên (giới hạn trong hoạt động “mua bán”) thì các hoạt động này không thuộc phạm vi điều chỉnh của Dự thảo.

-         Áp dụng trực tiếp các cam kết của Việt Nam trong các điều ước quốc tế mà nước ta là thành viên

Rất nhiều quy định tại Dự thảo đưa ra nguyên tắc về việc áp dụng trực tiếp các cam kết của Việt Nam trong các điều ước quốc tế mà nước ta là thành viên (ví dụ: khoản 6 Điều 10 Dự thảo xem xét quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên là căn cứ để xác định loại hàng hóa bị áp dụng biện pháp cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu hàng hóa). Tuy nhiên, theo quy định của khoản 2 Điều 6 Luật Điều ước quốc tế năm 2016 thì các quy định tại điều ước quốc tế không đương nhiên được áp dụng trực tiếp, nếu không đủ chi tiết, rõ ràng để thực hiện và không được cơ quan có thẩm quyền (Quốc hội, Chính phủ, Chủ tịch nước) quyết định áp dụng trực tiếp trong văn bản phê chuẩn. Như vậy, việc Dự thảo quy định việc áp dụng trực tiếp các quy định tại tất cả các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia (nếu có quy định liên quan) là chưa phù hợp với tinh thần cua quy định tại Luật Điều ước quốc tế. Đề nghị Ban soạn thảo rà soát lại toàn bộ Dự thảo và chỉnh sửa lại quy định về việc áp dụng quy định tại Điều ước quốc tế để đảm bảo tính thống nhất trong hệ thống pháp luật.

-         Về nguyên tắc áp dụng biện pháp cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu (Điều 10)

Việc thiết kế quy định tại Điều 10 Dự thảo chưa hợp lý và chưa đồng nhất ở điểm: từ khoản 1 đến khoản 4 quy định về tính chất của loại hàng hóa sẽ bị cấm xuất khẩu, nhập khẩu, trong khi khoản 5 lại xác định cụ thể về loại hàng hóa sẽ bị cấm. Đề nghị điểu chỉnh lại quy định tại khoản 5 để phù hợp với thiết kế chung của tổng thể quy đinh tại Điều 10;

-         Nguyên tắc chỉ định thương nhân xuất khẩu, nhập khẩu (Điều 27)

Khoản 1 Điều 27 quy định về loại hàng hóa được áp dụng biện pháp chỉ định thương nhân xuất khẩu, nhập khẩu.

Khoản 2, 3 Điều 27 quy định về yêu cầu của việc áp dụng biện pháp chỉ định thương nhân xuất khẩu, nhập khẩu.

Khoản 4 Điều 27 quy định về trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền trong chỉ định thương nhân xuất khẩu, nhập khẩu.

Có thể thấy việc gộp chung các quy định trên vào quy định về nguyên tắc chỉ định thương nhân xuất khẩu, nhập khẩu là chưa phù hợp và tính chất của các quy định.

Đề nghị Ban soạn thảo: tách khoản 1, khoản 2 và 3, với khoản 4 thành các điều khoản riêng, trong đó: Khoản 1 quy định về loại hàng hóa sẽ được áp dụng biện pháp chỉ định thương nhân xuất khẩu, nhập khẩu; khoản 2 và 3 quy định về nguyên tắc chỉ định; khoản 4 có thể nhập vào Điều 28.

-         Quản lý hoạt động thuê thương nhân nước ngoài làm đại lý mua, bán hàng hóa tại nước ngoài (Điều 50)

Điều 50 Dự thảo quy định “Hàng hóa không thuộc Danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, tạm ngừng xuất khẩu, hàng hóa lưu thông hợp pháp tại Việt Nam được bán tại nước ngoài bởi đại lý là thương nhân nước ngoài”. Quy định này là thừa, vượt ra khỏi phạm vi điều chỉnh của pháp luật Việt Nam, bởi lúc này các hoạt động liên quan đến hàng hóa sẽ do pháp luật của nước sở tại điều chỉnh. Do đó, đề nghị bỏ quy định tại Điều 50 Dự thảo.

Trên đây là một số ý kiến của VCCI đối với Dự thảo Luật Quản lý ngoại thương, rất mong Quý Cơ quan cân nhắc, xem xét để hoàn thiện Dự thảo.

Trân trọng cảm ơn.

Thành viên đang xem chủ đề này